Một số biện pháp khắc phục những sai sót khi giải toán liên quan đến bội và ước

doc 17 trang Kim Kim 16/03/2026 50
Bạn đang xem tài liệu "Một số biện pháp khắc phục những sai sót khi giải toán liên quan đến bội và ước", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • docmot_so_bien_phap_khac_phuc_nhung_sai_sot_khi_giai_toan_lien.doc

Nội dung text: Một số biện pháp khắc phục những sai sót khi giải toán liên quan đến bội và ước

  1. 1 PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TP BẮC GIANG TRƯỜNG THCS LÊ LỢI ************ BÁO CÁO BIỆN PHÁP THAM GIA HỘI THI GIÁO VIÊN DẠY GIỎI CẤP TỈNH CHU KỲ 2020 -2024 Tên biện pháp: Một số biện pháp khắc phục những sai sót khi giải toán liên quan đến bội và ước. Họ và tên: Nguyễn Thị Huyền Trang Môn giảng dạy: Toán 6 Trình độ chuyên môn: Đại học Chức vụ: Giáo viên Đơn vị công tác: Trường THCS Lê Lợi Bắc Giang, ngày 5 tháng 10 năm 2022
  2. 2 PHẦN A. ĐẶT VẤN ĐỀ Trong thời đại ngày nay, khi khoa học công nghệ đang phát triển thì việc nắm bắt, tiếp cận được những thông tin kịp thời và chính xác đòi hỏi mỗi người chúng ta phải có một kiến thức, một sự hiểu biết nhất định. Do đó, trong công tác giảng dạy người thầy phải hướng dẫn, bồi dưỡng cho các em học sinh có lượng kiến thức đầy đủ và vững chắc để tiếp tục lĩnh hội và tiếp thu kiến thức mới nhằm trang bị cho các em có đủ năng lực phục vụ cho xã hội sau này. Trong chương trình toán lớp 6 học sinh đã được học các khái niệm ước chung lớn nhất (ƯCLN) và bội chung nhỏ nhất (BCNN). Khi luyện tập về các khái niệm này học sinh sẽ gặp nhiều bài tập liên quan trong đó có dạng toán tìm hai số nguyên dương khi biết một số điều kiện liên quan đến ƯCLN và BCNN. Thực tế giảng dạy cho thấy: Học sinh lớp 6 bước đầu làm quen với chương trình THCS nên còn nhiều bỡ ngỡ gặp không ít khó khăn. Đặc biệt với phân môn số học, mặc dù đã được học ở tiểu học, nhưng với những đòi hỏi ở cấp THCS buộc các em trình bày bài toán phải lôgíc, có cơ sở nên đã khó khăn lại càng khó khăn hơn. Hơn nữa với lứa tuổi các em luôn có thói quen “làm bài nhanh giành thời gian đi chơi”, nên việc trình bày tính toán còn sai sót khá nhiều, ảnh hưởng không ít đến chất lượng bộ môn. Đây là vấn đề mà các thầy cô giáo giảng dạy toán 6 và các bậc phụ huynh đều rất quan tâm, lo lắng. Vì vậy giúp học sinh tìm ra những sai lầm, phân tích được nguyên nhân và chỉ rõ cách khắc phục những sai lầm đó trong quá trình thực hành giải bài toán số học đặc biệt là toán về ước và bội là tâm huyết và trăn trở của thầy cô giáo dạy toán 6. Với những lý do khách quan và chủ quan nêu trên, bản thân tôi đã mạnh dạn chọn cho mình biện pháp “ Một số biện pháp khắc phục những sai sót khi giải toán liên quan đến bội và ước”
  3. 3 PHẦN B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. Thực trạng công tác giảng dạy và học môn Toán ở trường THCS: 1. Ưu điểm: Trường THCS Lê Lợi có đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên có trình độ chuyên môn vững vàng, nhiệt tình trong công tác giảng dạy, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, tận tâm giúp đỡ hỗ trợ, hướng dẫn đồng nghiệp trong công tác. Đa số các em học sinh có ý thức học tập tốt, có ý chí vươn lên, có tinh thần ham học hỏi, có nhiều phương pháp tiếp cận tri thức theo hướng hiện đại và được cha mẹ quan tâm đầu tư. Nhiều em học sinh say mê, yêu thích và hứng thú với môn Toán. 2. Hạn chế và nguyên nhân: 2.1. Giáo viên Trong quá trình giảng dạy, một số giáo viên chưa giúp học sinh nắm được cách trình bày từng dạng toán cụ thể, học sinh chưa khắc phục được những hạn chế, yếu kém trong việc giải toán. Thông qua tiết luyện tập giáo viên chưa phân dạng bài tập cụ thể và mỗi dạng chưa có bài giảng trình bày mẫu rõ ràng cho các em tập giải. Giáo viên chưa kiên trì, bền bỉ rèn luyện cho các em các dạng toán trên trong suốt năm học. Giáo viên chưa gần gũi, chan hoà với học sinh, gây hứng thú trong mỗi tiết học, qua từng bài toán, qua các trò chơi vui học. 2.2. Học sinh Đa số học sinh chưa nắm vững kiến thức về bội và ước dẫn đến trình bài bày toán không có cơ sở thiếu lập luận chính xác, trình bày một cách tuỳ tiện, ký hiệu sai, tính toán không cận thận. Đối với học sinh lớp 6 mới được làm quen với tập hợp và các kí hiệu nên việc sử dụng các kí hiệu đôi khi còn nhầm lẫn, có khi là không hiểu bản chất kí hiệu mình dùng. Ý thức tự học của các em chưa cao, các em mải chơi hơn mải học. Để kiểm tra về kiến thức, kỹ năng giải các bài toán liên quan đến ước và bội trong chương II Toán 6 tập 1( bộ sách kết nối tri thức với cuộc sống) tôi đã tiến hành cho học sinh lớp 6B làm một bài tập khảo sát ( Phiếu học tập số 1) sau tiết luyện tập trong thời gian 15 phút và thu được kết quả sau ( phụ lục 1, phụ lục 2)
  4. 4 Chất lượng được khảo sát qua bài kiểm tra môn Toán như sau : Lớp Giỏi Khá TB Yếu SL % SL % SL % SL % 6B ( 38 HS) 4 10,5 8 21,5 19 50 7 18 Những sai sót trong lập luận, trong trình bày bài toán từ kết quả kiểm tra trên và qua các năm giảng dạy tôi nhận thấy đa số học sinh thường mắc phải một số sai lầm phổ biến như sau: Nội dung sai lầm 1. Sử dụng ký hiệu toán học 2. Sai sót do cẩu thả, thiếu tính cẩn thận chính xác khi làm bài 3. Sai sót do không nắm vững hệ thống kiến thức 4. Sai sót do không lập luận, lập luận không có căn cứ khi trình bày 5. Sai sót do không nắm vững “ thuật toán” 6. Sai sót do không biết cách trình bày hoặc trình bày tuỳ tiện, máy móc Do đó, khắc phục những sai sót là rất cần thiết đối với học sinh lớp 6 để tạo nền tảng cho các lớp sau. Xuất phát từ tình hình thực tế của trường và yêu cầu của nội dung kiến thức, tôi nhận thấy việc “ Khắc phục những sai sót khi giải toán liên quan đến bội và ước ở lớp 6” là thực sự cần thiết. Bởi vì, đây là cách giúp học sinh rèn được kĩ năng quan sát, nhận xét và vận dụng linh hoạt các phương pháp đã học vào từng bài tập cụ thể. Từ đó, giúp các em tìm tòi, phát hiện và chiếm lĩnh tri thức một cách tốt nhất. Không những thế, giải pháp này còn giúp các em hứng thú hơn khi được học toán, xem việc giải bài tập như cách giải trí sau khi học các môn khác. II. Biện pháp 1. Biện pháp 1: Khắc phục sai sót khi sử dụng ký hiệu toán học. Trong quá trình giải quyết dạng toán về ước và bội, việc sử dụng ký hiệu toán học đóng vai trò khá quan trọng. Vì vậy đối với các kiến thức về tập hợp nếu học sinh không hiểu và nắm vững các ký hiệu, cách ghi ký hiệu nên dẫn đến sai sót trong trình bày. Đại bộ phận học sinh yếu và trung bình yếu.
  5. 5 Ví dụ 1: Viết tập hợp A các số tự nhiên nhỏ hơn 30 là bội của 5 • Sai lầm thường gặp: A = 0; 5; 10; 15; 20; 25 hoặc A = {0, 5, 10, 15, 20, 25 } hoặc A {0; 5; 10; 15; 20; 25 } hoặc a = {0; 5; 10; 15; 20; 25 } Ví dụ 2: Phần đông học sinh sử dụng không thành thạo các ký hiệu : ; ; ; • Sai lầm thường gặp và nguyên nhân: Chẳng hạn: ƯC(4, 6) = Ư(4)  Ư(6) ( sai dấu  ) hay thay vì ghi 6 ƯC(12; 18) học sinh lại ghi 6  ƯC(12; 18 ) • Cách khắc phục: Để khắc phục những sai sót trên, đây là sai sót đáng tiếc, giáo viên cần thường xuyên cho học sinh sử dụng các ký hiệu toán học quen thuộc này thông qua các bài tập trắc nghiệm: Phân biệt cách ghi đúng sai, tìm chỗ sai và sửa sai trong cách ghi hoặc thông qua một số phản ví dụ nhằm giúp các em khắc sâu các ký hiệu toán học và tránh được một số nhầm lẫn đáng tiếc. Cần giải thích thấu đáo để các em hiểu đó là quy định bắt buộc không thể thay đổi.Giải thích rõ quan hệ giữa phần tử với tập hợp chỉ có thể là: phần tử thuộc “” hoặc không thuộc “ ” tập hợp. Trong từng tiết dạy cần cho các em tự tìm cái sai và sửa sai qua từng chi tiết nhỏ nhất dần tạo cho các em thói quen cẩn thận trong quá trình giải toán. 2. Biện pháp 2: Khắc phục sai sót do cẩu thả, thiếu tính cẩn thận chính xác khi làm bài Khi giải các bài tập về tìm ƯCLN hoặc BCNN, học sinh trung bình, trung bình khá thường mắc phải sai sót nhiều nhất là tính toán không cẩn thận kể cả trong phép chia cho số có một chữ số. • Sai lầm thường gặp và nguyên nhân: Ví dụ 1: Phân tích số 420 ra thừa số nguyên tố. 420 2 210 2 15(sai) Sai do chia 210 cho 2 bị sai vì học sinh thiếu tính cẩn thận, cẩu thả trong quá trình tính toán. Ví dụ 2: Phân tích số 45 ra thừa số nguyên tố. • Sai lầm thường gặp và nguyên nhân: 45 3 15 15 1 Sai do các em không chia cho ước các thừa số nguyên tố mà thực hiện phép chia hết.
  6. 6 Ví dụ 3: Tìm BCNN (8; 18; 30 ) • Sai lầm thường gặp và nguyên nhân: BCNN(8; 18; 30) = 23 . 32 . 5 = 6 . 9 . 5 = 270 ( Sai do học sinh tính toán sai 23 = 6 ) • Cách khắc phục: Với những sai sót này đòi hỏi giáo viên phải nhắc nhở học sinh cẩn thận với từng con số, từng phép tính, khi thực hiện xong mỗi một phép tính, mỗi một bài toán các em cần “dò” lại bài, có thể qua phép toán ngược hoặc làm lại lần hai xem có nhầm lẫn con số, phép tính nào không? Việc làm này cần được tập thành thói quen thường xuyên khi giải toán. Thông qua các bài tập ở bảng lớp trong từng tiết dạy giáo viên cũng hướng dẫn sửa sai tương tự để học sinh dần đi vào nếp, dần dần tạo cho tính cẩn thận, chính xác. 3. Biện pháp 3: Khắc phục sai sót do không nắm vững hệ thống kiến thức. Khi tìm ƯCLN và BCNN của 2 hay nhiều số, ngoài việc mắc phải những sai sót như đã nói ở trên học sinh còn khá nhiều sai sót cơ bản do không nắm vững hệ thống kiến thức. Chẳng hạn cách viết ký hiệu ƯCLN và BCNN, học sinh vẫn còn nhầm lẫn giữa hai ký hiệu này do không hiểu rõ bản chất của ƯCLN là “số lớn nhất trong tất cả các ƯC” hoặc BCNN là “số nhỏ nhất khác 0 trong các BC”. Sau khi học bài ƯCLN và BCNN, học sinh vẫn không vận dụng được cách tìm ƯC thông qua ƯCLN hoặc BC thông qua BCNN mà vẫn giữ thói quen tìm ƯC hoặc BC qua các bài trước vừa mất nhiều thời gian vừa không liên kết kiến thức. Khi tìm ƯCLN và BCNN, học sinh còn mất khá nhiều công sức khi phân tích một số ra thừa số nguyên tố do không nắm vững cách làm, không thuộc các số nguyên tố nhỏ hơn 100. Do không hệ thống được kiến thức, phân biệt được sự giống và khác nhau giữa cách tìm ƯCLN và BCNN nên học sinh mắc rất nhiều sai sót khi tìm ƯCLN và BCNN dẫn đến những sai sót đáng tiếc sau này khi giải bài toán giải liên quan đến bội và ước và tìm mẫu số chung ở phần phân số. Ví dụ 1:( Ví dụ 4 - Tr. 46 - SGK Toán 6 tập I – Bộ sách kết nối tri thức) Tìm ƯCLN rồi tìm ƯC(75, 105, 120) Bài giải đúng: Bước 1 : 75 = 3. 52; 105 = 3. 5. 7; 120 = 23. 3. 5. Bước 2 : ƯCLN(75, 105, 120) = 3. 5=15 Bước 3 : ƯC(75, 105, 120) = Ư(15) = {1; 3; 5; 15} • Sai lầm thường gặp và nguyên nhân: Bước 1: Nhiều em còn yếu sẽ rất lúng túng và không phân tích được các số ra thừa số nguyên tố do không nắm các số nguyên tố.
  7. 7 Bước 2: Học sinh sẽ sai sót vì không biết phải chọn thừa số nguyên tố chung hay riêng, số mũ lớn nhất hay số mũ nhỏ nhất vì không nắm vững quy tắc tìm ƯCLN và BCNN. Bước 3: Rất nhiều học sinh sẽ không đi theo bước 3 mà quay lại lần lượt tìm Ư(75), Ư(105), Ư(120) rồi tìm giao của 3 tập hợp ước đó theo cách làm ở bài 16 vừa tốn nhiều công sức vừa rất dễ gặp sai sót, hoặc một số em biết cách làm nhưng lại rất lúng túng trong trình bày thậm chí là trình bày sai. • Cách khắc phục: Đối với việc học sinh không nắm được hệ thống các số nguyên tố nhỏ hơn 100 thì giáo viên có thể bắt buộc từng đôi bạn hoặc nhóm học tập tự kiểm tra và báo cáo kết quả. Hoặc khi dạy về phần số nguyên tố, sau tiết học có thể tổ chức một trò chơi nhỏ vui: Điền số nguyên tố còn thiếu vào bảng theo yêu cầu của đề bài. Học sinh sẽ rất hào hứng tham gia, vừa gây hứng thú học tập vừa khắc sâu kiến thức cho các em. Sai sót do không biết cách tìm ƯCLN và BCNN: Đây là sai sót rất thường gặp. Vì vậy sau hai bài học này, giáo viên cần cho học sinh tự so sánh hai cách tìm để tìm ra điểm giống khác nhau giữa hai quy tắc. Đồng thời cũng thường xuyên củng cố hai quy tắc này qua các bài tập củng cố. Nhấn mạnh những sai sót thường gặp đó và nói rõ tác hại nguy hiểm của các sai sót đó. Yêu cầu mỗi em lập bảng so sánh dán ngay đầu trang bìa vở để thường xuyên đập vào mắt các em giúp các dễ nhớ kiến thức. Riêng với cách tìm ƯC và BC thông qua ƯCLN và BCNN: Sau khi học lý thuyết giáo viên cho các em thực hành một số ví dụ sau khi đã có một bài giải mẫu. Đưa ra cho các em lời khuyên “ từ bài này trở đi ta không cần tìm ƯC và BC bằng cách làm như ở phần tìm ước chung và bội chung. Ví dụ 2: Bài tập 2.39 – Tr. 53 sách Toán 6 tập 1 - Bộ sách kết nối tri thức Tìm số tự nhiên a nhỏ nhất khác 0, biết rằng a  28 và a  32 • Sai lầm thường gặp và nguyên nhân: Do không nắm được định nghĩa về BCNN và định nghĩa BC, học sinh sẽ không biết được đề bài yêu cầu tìm cái gì và chắc chắn sẽ không giải được bài toán. Bài giải đúng: Theo đề ta có a  28 và a  32 và a nhỏ nhất khác 0 Vậy a = BCNN(28, 32). Ta có: 28 = 22.7; 32 = 25 Nên a = BCNN(28, 32) = 25.7 = 224 Vậy a = 224. • Cách khắc phục:
  8. 8 Đứng trước khó khăn này của học sinh chúng ta cần biết tháo gỡ khúc mắc cho các em qua hệ thống câu hỏi gợi mở đơn giản mà cụ thể vừa hệ thống kiến thức lại cho các em vừa giúp các em giải được bài như: + a  28 và a  32 thì a được gọi là gì của 28 và 32? + a lại là số tự nhiên nhỏ nhất khác 0. Vậy a cần tìm này là gì? . Từ các câu hỏi đó học sinh dễ dàng lập luận và giải được bài toán. Tóm lại: Đối với những bài toán có các bước giải cụ thể, giáo viên cần cho học sinh nắm vững kiến thức qua từng bước giải, rèn luyện từng bước rồi mới ráp vào bài toán, làm đi làm lại nhiều lần sau khi giáo viên đã giải bài toán mẫu. 4. Biện pháp 4: Khắc phục sai sót do không lập luận, lập luận không có căn cứ khi trình bày bài toán. Trong trình bày bài toán bằng lời học sinh thường thiếu chính xác, lập luận không chặt chẽ, thiếu căn cứ, không có cơ sở toán học. Nguyên nhân là khả năng tư duy các em chưa cao, phụ thuộc vào lứa tuổi. Ví dụ 1: Tìm số tự nhiên x biết rằng 112  x; 140  x và 10 < x < 20 • Sai lầm thường gặp và nguyên nhân: Rất nhiều học sinh nhẩm tìm từng số nhưng khi hỏi lý do vì sao có các số đó thì học sinh rất lúng túng không thể trả lời được. Nguyên nhân là do các em chưa biết cách lập luận bài toán để giải cho lôgíc. Bài giải đúng: Theo đề bài thì 112  x; 140  x nên x ƯC(112, 140) Ta có: 112 = 24. 7 140 = 22. 5. 7 ƯCLN(112, 140) = 22. 7 = 28 ƯC(112, 140) = Ư(28) = {1; 2; 4; 7; 14; 28} Vì 10 < x < 20 nên x = 14. Vậy x = 14. • Cách khắc phục: Đối với sai sót này, giáo viên cần chỉ cho các em biết cách xoáy sâu vào yêu cầu của đề, lập luận theo những điều đề đã cho để không đi lệch hướng hoặc giải bài toán chỉ có kết quả mà không qua một bước lập luận nào. Giáo viên có thể hướng dẫn cho học sinh tập lập luận qua một số câu hỏi gợi mở : + x N; 112  x ; 140  x như vậy x là gì? + 10 < x < 20, vậy thì những số nào là số cần tìm?
  9. 9 5. Biện pháp 5: Sai sót do không nắm vững “ thuật toán”. Không nắm vững cách giải bài mẫu, thiếu sáng tạo, chắc chắn sẽ có khá nhiều học sinh lập luận không chặt chẽ bài toán hoặc thiếu một trong các bước giải cơ bản mặc dù vẫn tìm ra đáp số của bài toán nhưng chất lượng bài toán không cao. Ví dụ 1: Bài tập 2.40 – Tr. 53 Toán 6 tập 1 - Bộ sách kết nối tri thức Học sinh lớp 6A khi xếp thành 3 hàng, 4 hàng hay 9 hàng đều vừa đủ. Biết số học sinh lớp đó trong khoảng từ 30 đến 40. Tính số học sinh của lớp 6A ? • Sai lầm thường gặp và nguyên nhân: - Không có bước gọi chữ (a) thay giá trị cần tìm, nhưng ở bước tiếp theo lại xuất hiện a. - Không có điều kiện của a. - Không lập luận mà lại đi tìm BC(3, 4, 9) - Không lập luận theo điều kiện đề bài mà đưa ra kết quả. Do không nắm vững “ thuật toán”, không nắm vững cách giải bài mẫu, thiếu sáng tạo, chắc chắn sẽ có khá nhiều học sinh lập luận không chặt chẽ bài toán hoặc thiếu một trong các bước giải cơ bản mặc dù vẫn tìm ra đáp số của bài toán nhưng chất lượng bài toán không cao. Bài giải đúng: Gọi số học sinh của lớp 6A là a ( a N* ) Vì khi học sinh xếp hàng 3, 4, 9 đều vừa đủ hàng nên a là BC(3, 4, 9). Ta có: 3 = 3 4 = 22 9 = 32 BCNN(3, 4, 9) = 22. 32 = 36 BC (3, 4, 9) = {0; 36; 72;....} Vì số học sinh lớp 6A trong khoảng từ 30 đến 40 nên số học sinh của lớp 6A là 36. • Cách khắc phục: Với những sai sót ở ví dụ 2 này, giáo viên khắc phục bằng cách: Giải một bài toán mẫu tương tự. Cho các em tự tìm ra các bước giải. Giáo viên lập thành thuật toán: B1: Gọi a ..( điều kiện của a ) B2: Lập luận để có a là BC( .) hoặc là BCNN( ) B3: Tìm BC( .) hoặc BCNN( ..) B4: Lập luận theo điều kiện để chọn kết quả. Cho các em thực hành tập giải toán nhiều lần.
  10. 10 6. Biện pháp 6. Sai sót do không biết cách trình bày hoặc trình bày tuỳ tiện, máy móc. Đối với hai bài toán giải bằng lời liên quan đến bội và ước, học sinh không biết cách giải hoặc không nắm vững cách trình bày nên nhiều em trình bày lẫn lộn, tuỳ tiện giữa các bước làm mất đi tính lôgíc trong lời giải, hoặc bỏ đi một vài bước trong bài giải làm cho bài giải thiếu tính chặt chẽ. Đôi lúc do lập luận nhầm lẫn giữa hai bài toán này nên học sinh không làm được bài. Một điều quan trọng hơn nữa là nhiều em kể cả học sinh khá giỏi vẫn rất máy móc, rập khuôn theo bài giải mẫu, thuật toán có sẵn mà quên mất rằng đề bài đã đưa ra không theo bài toán mẫu. Ví dụ 1: Một số sách nếu xếp thành từng bó 10 quyển, 12 quyển, 15 quyển đều thừa 1 quyển. Tính số sách đó biết rằng số sách trong khoảng từ 100 đến 150. • Sai lầm thường gặp và nguyên nhân: Do không đọc kỹ đề, học sinh cứ thế theo bài toán mẫu rập khuôn vào mà giải, không để ý bài toán cho khi xếp thừa 1 quyển để lập luận bài toán theo chiều hướng khác. • Cách khắc phục: Đối với dạng mở rộng này, giáo viên cần nhắc nhở kỹ cho các em không phải khi nào cũng rập khuôn đúng mẫu mà ta phải linh hoạt lập luận theo đề bài toán, đi theo đúng hướng chặt chẽ theo đề bài. Chẳng hạn ở ví dụ trên ta phải biết số sách (a) đó xếp 10 quyển, 12 quyển, 15 quyển đều thừa 1 quyển nghĩa là nếu bớt 1 quyển thì số sách đó sẽ được chia đều cho 10, cho 12, cho 15 a -1 là BC(10, 12, 15) Tìm a - 1 rồi mới tìm a Giáo viên mở rộng ra cho học sinh : Nếu trường hợp bài toán cho tương tự nhưng thay vì thừa 1 thì bài toán lại cho thiếu 1 thì sao ? Cách giải tương tự chỉ thay vào a – 1 là a + 1 là BC(10, 12, 15) • Tóm lại Trong thực tế giảng dạy môn toán lớp 6 về chủ đề liên quan đến ước và bội. Bản thân tôi đã phát hiện những sai sót mà học sinh thường xuyên mắc phải khi trình bày bài toán đó là: Trình bày bài toán không có cơ sở, thiếu lập luận hoặc lập luận không chính xác. Thiếu tính cẩn thận dẫn đến tính toán sai, sử dụng sai ký hiệu toán học hoặc trình bày bài toán rập khuôn thiếu sự tư duy, linh hoạt từ một bài toán mẫu Phần trình bày trên chỉ là một số ví dụ điển hình cho mỗi loại sai sót và những biện pháp chủ quan của bản thân rút ra trong quá trình giảng dạy. Tôi đã tìm hiểu được các nguyên nhân sai sót như sau: + Học sinh chưa có phương pháp học tập đúng đắn với bộ môn
  11. 11 + Chưa học lý thuyết đã làm bài tập. + Chưa nắm kiến thức một cách có hệ thống. + Một số học sinh yếu chưa có cố gắng trong học tập, thiếu tập trung trong tiết học thậm chí lười ghi cả bài giải mẫu của giáo viên. + Học sinh chưa chú trọng việc học bài cũ, giải bài tập ở nhà. Trong quá trình giải bài tập : + Học sinh thiếu tính cẩn thận khi trình bày. + Không nắm được đề bài cho cái gì, yêu cầu cái gì? mà nguyên nhân là do không đọc kỹ đề nên lập luận sai dẫn đến bài toán sai. + Thiếu sự quan tâm của gia đình trong việc học ở nhà do đó các em chỉ làm bài tập “qua loa, lấy lệ” rồi đi chơi. Từ những nguyên nhân đó, để giúp học sinh nắm được cách trình bày từng dạng toán cụ thể, khắc phục dần những hạn chế, yếu kém trong việc giải toán bản thân tôi đã rút ra được những kinh nghiệm sau: + Trong quá trình giảng dạy giáo viên theo dõi, uốn nắn những sai trái. + Làm các bài tập thực tế uốn nắn những sai trái đó. + Giúp học sinh ôn luyện kiến thức và cách trình bày bài giải. + Hình thành học sinh thói quen tập trung chú ý, làm việc theo thời gian, đọc sách giáo khoa trước khi đến lớp, tích cực tham gia xây dựng bài. + Tạo sự tự tin trong học tập và tự kiểm tra bài giải. + Tổ chức các nhóm và giao nhiệm vụ cho các nhóm, hướng dẫn cách làm việc cho nhóm. + Phối hợp với phụ huynh trong việc học tập của con em, thường xuyên trao đổi thông tin học tập. PHẦN C: MINH CHỨNG VỀ HIỆU QUẢ CỦA GIẢI PHÁP Qua thực tế giảng dạy chương II, phần bài tập tìm ước chung, bội chung thuộc phân môn đại số 6 năm học 2021 – 2022 tại lớp 6B. Sau khi thực hiện các tiết luyện tập, ôn tập và chấm chữa các bài kiểm tra đối chứng, tôi nhận thấy rằng tỉ lệ bài tập học sinh giải đúng, chính xác tăng lên rõ rệt, thể hiện qua bảng so sánh sau:
  12. 12 Lớp 6B Giỏi Khá TB Yếu ( 38 HS) SL % SL % SL % SL % Trước khi áp dụng biện pháp 4 10,5 8 21,5 19 50 7 18 Sau khi áp dụng biện pháp 10 26 19 50 8 21 1 3 Tỉ lệ học sinh được điểm khá, giỏi tăng cao( phụ lục 3 ), tỉ lệ học sinh được điểm yếu giảm mạnh từ (18 % xuống còn 3%) thể hiện qua biểu đồ dưới đây: BIỂU ĐỒ SO SÁNH SỐ LƯỢNG ĐIỂM TRƯỚC VÀ SAU KHI ÁP DỤNG GIẢI PHÁP 20 18 16 14 12 10 8 6 4 2 0 Giỏi Khá Trung bình Yếu Số lượng điểm trước khi áp dụng giải pháp Số lượng điểm sau khi áp dụng giải pháp Kết quả đó là một sự bất ngờ đối với bản thân tôi. Tôi không dám chắc chắn rằng những biện pháp mà tôi đã đưa ra là tối ưu nhất, hiệt quả nhất, nhưng kết quả mà học sinh đạt được qua quá trình tôi giảng dạy thật sự là niềm vui, niềm hứng thú đối với tôi trong công tác.
  13. 13 PHẦN D: CAM KẾT Đây là giải pháp kinh nghiệm của bản thân tôi viết, không sao chép hoặc vi phạm bản quyền. Các biện pháp đã triển khai thực hiện và minh chứng về sự tiến bộ của học sinh là trung thực. Bắc Giang, ngày 05 tháng 10 năm 2022 Người thực hiện Nguyễn Thị Huyền Trang PHẦN E. ĐÁNH GIÁ, NHẬN XÉT CỦA NHÀ TRƯỜNG 1. Đánh giá, nhận xét của tổ/ nhóm chuyên môn TỔ/NHÓM TRƯỞNG CHUYÊN MÔN (ký và ghi rõ họ tên) 2. Đánh giá, nhận xét, xác nhận của Hiệu trưởng. THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ (ký và đóng dấu)
  14. 14 PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1 Lớp: . Họ và tên: ... . Bài tập 1: a) Viết tập hợp A các số tự nhiên nhỏ hơn 40 là bội của 6 b) Tìm số tự nhiên x sao cho x  12; x  18 và x < 144 . ... .. .. PHIẾU HỌC TẬP SỐ 2 Lớp: Họ và tên: . Bài tập 1: a) Tìm ƯC ( 16, 24) b) Học sinh lớp 6A khi xếp hàng 2, hàng 5, hàng 8 đều vừa đủ hàng. Hỏi số học sinh lớp 6A là bao nhiêu, biết rằng số học sinh nhỏ hơn 45.
  15. 15 PHỤ LỤC 1 PHỤ LỤC 2
  16. 16 PHỤ LỤC 3