Một số giải pháp khi giảng dạy truyện ngắn giàu chất trữ tình trong chương trình Ngữ văn lớp 8

pdf 21 trang Kim Kim 11/03/2026 20
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Một số giải pháp khi giảng dạy truyện ngắn giàu chất trữ tình trong chương trình Ngữ văn lớp 8", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfmot_so_giai_phap_khi_giang_day_truyen_ngan_giau_chat_tru_tin.pdf

Nội dung text: Một số giải pháp khi giảng dạy truyện ngắn giàu chất trữ tình trong chương trình Ngữ văn lớp 8

  1. CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN 1.Tên sáng kiến : Một số giải pháp khi giảng dạy truyện ngắn giàu chất trữ tình trong chương trình Ngữ văn lớp 8. 2. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử : Ngày 03 tháng 10 năm 2023 3. Các thông tin cần bảo mật : Không. 4. Mô tả các giải pháp cũ thường làm Truyện ngắn giàu chất trữ tình không phải là thể loại mới xuất hiện trong Chương trình GDPT 2018. Trong Chương GDPT 2006, thể loại này cũng đã được đưa vào giảng dạy trong Chương trình Ngữ văn lớp 8,9. Mỗi thể loại sẽ có những đặc trưng riêng. Và mục tiêu của chương trình là hình thành cho học sinh kĩ năng đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại. Tuy nhiên trên thực tế việc giảng dạy thể loại này vẫn còn nhiều bất cập. Cụ thể như sau: - Khâu hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài còn sơ sài, chung chung. Chủ yếu chỉ yêu cầu học sinh đọc trước văn bản và trả lời câu hỏi trong sách giáo khoa. - Tuy có gợi ý một vài phương pháp tiếp cận truyện ngắn giàu chất trữ tình nhưng chưa hiện thực hóa bằng các nhiệm vụ cụ thể. Chưa giúp học sinh phân biệt đọc hiểu một truyện ngắn trữ tình có điểm gì khác so với đọc hiểu một truyện ngắn thông thường. Do đó dẫn đến học sinh có đọc trước tác phẩm nhưng vẫn không hiểu được nội dung tư tưởng và giá trị nghệ thuật của tác phẩm. - Phương pháp giảng dạy trên lớp chưa đa dạng, chưa chú ý phát huy tích cực, chủ động của học sinh nên xuyên suốt chủ đề, giáo viên là người truyền thụ kiến thức một chiều, học sinh ít có cơ hội tương tác với giáo viên và bạn học, ít có thời gian tự động não, suy nghĩ vấn đề. Điều này xuất phát từ tâm lý thường thấy ở giáo viên là sợ học sinh không có kiến thức hay hổng kiến thức, thi cử khó khăn từ đó dẫn đến việc “làm thay”, “nói thay” học sinh trong các tiết dạy trên lớp.
  2. 2 - Chưa hệ thống hóa các kiến thức đã học thông qua chủ đề nên kiến thức trong chủ đề dễ bị dàn trải, thiếu trọng tâm, trọng điểm. - Chưa chú trọng đến khâu kiểm tra, đánh giá kết quả tự học của học sinh. Thông thường, việc đánh giá khả năng tự học của học sinh thường được giáo viên đánh giá qua khâu chuẩn bị bài ở nhà, ít chú trọng đến khả năng tự học sau giờ học của học sinh. Hình thức kiểm tra và đánh giá kết quả tự học của học sinh chưa phong phú. Chủ yếu là giáo viên đánh học sinh qua việc kiểm tra vở bài soạn ở nhà, qua mức độ chính xác các câu trả lời của học sinh trên lớp. - Đa số dạy theo lối mòn dẫn đến hiệu quả tiết dạy không cao. Học sinh không nhận diện được thể loại truyện ngắn giàu chất trữ tình, không chỉ ra được những đặc điểm đặc trưng của thể loại; không có phương pháp tiếp cận phù hợp. 5. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp sáng kiến Từ thực tế của việc giảng dạy truyện ngắn giàu chất trữ tình của các đồng nghiệp, tôi thiết nghĩ, việc áp dụng sáng kiến kinh nghiệm nêu trên sẽ hỗ trợ các đồng nghiệp trong quá trình giảng dạy. Bài dạy sẽ có tính hệ thống, khoa học hơn, vừa có tính khái quát vừa có tính cụ thể theo đúng đặc trưng của thể loại. Tránh được tình trạng dạy mơ hồ, thiếu tính thực tế. Giáo viên sẽ hình thành được cho học sinh phương pháp tiếp cận văn bản phù hợp với đặc trưng thể loại. Từ đó có năng lực nhận diện văn bản theo đặc trưng thể loại, phát triển kĩ năng đọc theo thể loại nói chung và truyện ngắn giàu chất trữ tình nói riêng. 6. Mục đích của giải pháp sáng kiến Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp khi giảng dạy truyện ngắn giàu chất trữ tình trong chương trình Ngữ văn lớp 8 của cá nhân tôi sẽ có những mục đích sau: Thứ nhất là giúp các cấp lãnh đạo ngành thấy được thực trạng của việc giảng dạy truyện ngắn giàu chất trữ tình trong các nhà trường THCS. Thứ hai là giúp các đồng nghiệp thấy rõ được ý nghĩa thiết thực của việc giảng dạy tác phẩm văn học từ góc nhìn thể loại. Thứ ba là giúp các đồng nghiệp có thêm tư liệu, kinh nghiệm để giảng dạy truyện ngắn giàu chất trữ tình. Từ đó nâng cao chất lượng giờ dạy, giáo viên có
  3. 3 thể hình thành cho HS có những kiến thức cơ bản về thể loại truyện ngắn giàu chất trữ tình. Từ đó các em có khả năng nhận diện và tiếp cận văn bản theo đặc trưng thể loại một cách hiệu quả nhất. Thứ tư là gợi ý một số hình thức tổ chức dạy học trong việc giảng dạy truyện ngắn giàu chất trữ tình để cho giờ dạy thêm phong phú, hiệu quả... 7. Nội dung: 7.1. Thuyết minh giải pháp mới hoặc cải tiến Để có thể rút ra những kinh nghiệm cụ thể cho việc giảng dạy truyện ngắn giàu chất trữ tình theo đặc trưng thể loại, bản thân tôi đã tiến hành một số công việc như sau: Trước hết là nghiên cứu kĩ chương trình môn Ngữ văn THCS (Chương trình giáo dục phổ thông 2018). Từ đó thấy được vị trí của các tiết dạy truyện ngắn giàu chất trữ tình trong chỉnh thể chương trình. Nghiên cứu các tài liệu chuyên môn, tài liệu tham khảo qua việc đọc các cuốn: Dẫn luận thi pháp học- Trần Đình Sử; Lí luận văn học tập 1,2- Trần Đình Sử ; Thạch Lam – Tác phẩm & Lời bình, Thùy Trang, NXB Văn học;Nhìn lại Thơ mới và văn xuôi Tự lực văn đoàn, Trần Hữu Tá, Nguyễn Thành Thi, Đoàn Lê Giang (chủ biên),NXB Thanh niên; Văn học Việt Nam hiện đại giai đoạn 1930-1945,Hoàng Thị Huế, NXB Đại học Huế. Đọc các truyện ngắn giàu chất trữ tình nổi tiếng như: Dưới bóng hoàng lan, Hai đứa trẻ, Gió lạnh đầu mùa – Thạch Lam, Tôi đi học- Thanh Tịnh, Lặng lẽ Sa Pa- Nguyễn Thành Long, Hoa học trò; Phấn thông vàng- Xuân Diệu để hiểu rõ hơn về thể loại. Tiếp theo, tôi tiến hành tìm hiểu thực trạng giảng dạy truyện ngắn giàu chất trữ tình trong các nhà trường; trao đổi với các đồng nghiệp; phát phiếu khảo sát, trò chuyện với các em HS để hiểu rõ tâm tư, nguyện vọng Trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy truyện ngắn giàu chất trữ tình theo đặc trưng thể loại trong chương trình Ngữ văn lớp 8. Theo kinh nghiệm của cá nhân tôi thì để các giờ dạy truyện ngắn giàu chất trữ tình thành công, GV cần thực hiện một số giải pháp sau: a- Chuẩn bị trước giờ dạy
  4. 4 Đây là thao tác có ý nghĩa quan trọng quyết định sự thành, bại của giờ dạy trên lớp. Nhiều GV chủ quan xem nhẹ dẫn đến khó khăn, lúng túng trong quá trình thực hiện. Theo tôi, trước giờ lên lớp, GV cần thực hiện các công việc sau: - GV cần hướng dẫn HS kĩ năng đọc tác phẩm: +Trong quá trình đọc, học sinh cần chú ý đến các yếu tố đặc trưng của truyện ngắn giàu chất trữ tình: nhân vật (ngoại hình, ngôn ngữ, hành động, nội tâm, mối quan hệ với các nhân vật khác), cốt truyện ( thường đơn giản, nhẹ nhàng), tình huống truyện ( không gay cấn, không nhiều sự kiện), kết cấu, chi tiết nghệ thuật đặc sắc và lời kể. + Khi đọc tác phẩm, học sinh cần đánh dấu vào sách giáo khoa những đoạn văn hay, gạch dưới những ngôn ngữ, hành động của nhân vật vì đó là cơ sở để khái quát tính cách nhân vật hoặc tìm những chi tiết nghệ thuật đặc sắc trong tác phẩm toát lên chất trữ tình của tác phẩm. Giáo viên cần hướng dẫn kĩ cho học sinh việc tìm hiểu ý nghĩa chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm văn xuôi vì đó là hướng đi đúng đắn của quan điểm dạy học gắn với đặc trưng thi pháp thể loại. Giáo viên cần chỉ rõ các chi tiết nghệ thuật đặc sắc có trong tác phẩm, từ đó khơi gợi để học sinh tìm hiểu ý nghĩa của các chi tiết ấy. - Trả lời hệ thống câu hỏi Đọc- hiểu và các câu hỏi bổ sung có tính tư duy so sánh hoặc tổng hợp; sưu tầm và cách sưu tầm các truyện ngắn giàu chất trữ tình khác ( Không thể nhắc chung chung, cần ấn định rõ nội dung: Tên truyện, nguồn sưu tầm). Ví dụ: Khi dạy truyện ngắn Tôi đi học - Thanh Tịnh, giáo viên nên hướng dẫn học sinh tìm đọc truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa- Nguyễn Thành Long để thấy được điểm tương đồng của hai tác phấm. Chất trữ tình trong hai tác phẩm toát lên từ những khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp. Hay so sánh chất trữ tình trong hai truyện Người mẹ vườn cau- Nguyễn Ngọc Tư và Gió lạnh đầu mùa- Thạch Lam để thấy được điểm tương đồng của chất trữ tình trong hai tác phẩm: toát lên từ tình người ấm áp - Bản thân GV rất cần phải tích cực, chủ động trong việc sưu tầm tài liệu, thông tin giảng dạy qua nhiều kênh thông tin khác nhau: Đọc tài liệu chuyên môn, xem
  5. 5 các video, các bài dạy dạy theo chuyên đề Từ đó xác định chuẩn xác nội dung cần truyền tải, phương pháp, kĩ thuật dạy học tương ứng. Hiểu rõ đặc trưng của truyện ngắn giàu chất trữ tình; điểm khác biệt giữa truyện ngắn trữ tình và truyện ngắn giàu tính hiện thực - GV cần tìm hiểu rõ đối tượng HS để lựa chọn nội dung và phương pháp cụ thể . Tránh dàn trải, dạy chung chung cho mọi đối tượng. - Sắp xếp, phân loại thông tin phù hợp với nội dung cần dạy. - Chuẩn bị các phương tiện, thiết bị dạy học cần thiết: máy tính, clip, tranh ảnh, phiếu học tập - Trao đổi với đồng nghiệp về cách thức dạy. b- Trong giờ dạy Gv có thể lựa chọn các hình thức tổ chức giờ dạy khác nhau. Tuy nhiên nhất thiết GV cần giúp cho HS hiểu được: * Đặc trưng của truyện ngắn giàu chất trữ tình: - Về cốt truyện: Trong truyện ngắn trữ tình người viết không chú ý tới cốt truyện. Cốt truyện trong nhiều truyện ngắn trữ tình rất đơn sơ vì thế người ta thường gọi những truyện ngắn này mang tính phi cốt truyện đó là những truyện ngắn khó kể lại được vì câu chuyện không tiêu biểu nếu có thì đó là cốt truyện bên trong tức cốt truyện tâm lý diễn tả những tâm trạng điển hình của nhân vật. - Nhân vật: Nhân vật ít hành động chủ yếu là bộc lộ tâm trạng suy nghĩ. Các nhà văn thường chú ý đến diễn biến tâm trạng tâm lý cảm xúc của nhân vật, giọng văn nhẹ nhàng, bàng bạc, giàu chất thơ . Nhân vật trong truyện thường vượt lên trên thực tại của đời sống, của hoàn cảnh để hướng đến vẻ đẹp của nhân cách, tâm hồn. - Tình huống truyện: Truyện ngắn trữ tình ít chú ý đến mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn. vì vậy tình huống truyện rất đơn giản. Các nhà văn cũng ít khi quan tâm đến sự mở nút thắt nút của chuyện mà thường chú ý đến suy nghĩ tâm trạng của nhân vật khi dịu dàng, lúc đau đớn, giằng xé, lúc âm thầm vô vọng chính điều này gợi sự đồng cảm sâu sắc đối với độc giả khiến độc giả cũng trăn trở sống cùng tâm trạng với nhân vật.
  6. 6 - Chất trữ tình trong truyện ngắn còn được thể hiện qua cách miêu tả thiên nhiên, tạo nên sự rung cảm trước cái đẹp của thiên nhiên * Học sinh nhận biết được chất trữ tình của các truyện ngắn trong chương trình: - Truyện ngắn “ Tôi đi học”- Thanh Tịnh: +Về nội dung: tập trung miêu tả những cảm xúc và diễn biến tâm trạng vừa vui mừng, phấn chấn vừa ngỡ ngàng, lo sợ, của nhân vật “tôi” trong buổi đầu tiên đến trường một cách chân thực và cảm động. + Về hình thức: Cốt truyện rất đơn giản, nhẹ nhàng, không có tình huống gay cấn, không nhiều sự kiện. +Về ngôn ngữ: Sử dụng những câu văn giàu cảm xúc với giọng điệu nhẹ nhàng, những hình ảnh so sánh độc đáo và việc sử dụng hàng loạt các từ láy trong việc miêu tả khung cảnh thiên nhiên, tái hiện chân thực, rõ nét cảm xúc bỡ ngỡ, rụt rè của nhân vật tôi trong ngày tựu trường - Truyện ngắn “ Gió lạnh đầu mùa”- Thạch Lam: + Về nội dung: Tập trung miêu tả những cảm xúc và tâm trạng từ vui vẻ ấm áp đến lo lắng, sợ hãi của nhân vật Sơn trong hai thời điểm trước khi cho áo và sau khi cho áo. Các nhân vật trong truyện đều toát lên vẻ đẹp của sự yêu thương, của tấm lòng thơm thảo và trái tim đôn hậu. => Chất thơ hiển hiện qua tấm lòng trong sáng và tình yêu thương chia sẻ giữa con người. + Về hình thức: Cốt truyện rất đơn giản, chủ yếu tập trung vào sự việc chị em Sơn cho chiếc áo bông. Ngôn ngữ miêu tả (tả cảnh vật và tâm trạng) nhẹ nhàng, tinh tế, đi sâu vào cảm giác người đọc. Ví dụ: :“ đất khô trắng, luôn cơn gió vi vu làm bốc lên những màn bụi nhỏ, thổi lăn những cái lá khô lạo xạo”; “Sơn đứng lặng yên đợi, trong lòng tự nhiên thấy ấm áp vui vui”. - Truyện ngắn “ Người mẹ vườn cau”- Nguyễn Ngọc Tư + Về nội dung: Truyện là kí ức của tác giả về bà nội - một người mẹ anh hùng giàu đức hy sinh và đáng thương. Qua đó, gửi gắm đến người đọc thông điệp về
  7. 7 sự biết ơn và kính trọng những người đã hi sinh vì lí tưởng cách mạng, vì nền hòa bình độc lập và những người mẹ anh hùng + Hình thức: Cốt truyện gần gũi, đơn giản, nhẹ nhàng, thấm đẫm tình người. Lối kể chuyện thủ thỉ, nhẹ nhàng, sâu lắng, hình ảnh đẹp, gợi cảm * Hình thành cho HS kĩ năng Đọc- hiểu truyện ngắn giàu chất trữ tình: Về cơ bản, việc đọc hiểu truyện ngắn giàu chất trữ tình vẫn phải tuân theo cách đọc của một văn bản truyện thông thường, đó là: - Tóm tắt được cốt truyện. Phân tích được nhân vật, đặc biệt là nhân vật chính của tác phẩm. Phân tích và đánh giá được vai trò của người kể chuyện trong tác phẩm. Nhận xét, đánh giá được đặc điểm về ngôn ngữ kể chuyện được sử dụng trong tác phẩm. Tuy nhiên với đặc trưng là truyện ngắn giàu chất trữ tình, GV cần hình thành cho HS kĩ năng xác định các yếu tố sau: - Cần xác định truyện ngắn trữ tình viết về ai, viết về sự việc gì? Cốt truyện có gì đặc biệt. - Nhân vật chính là ai? Nhân vật đó được tác giả khắc họa như thế nào qua ngoại hình, lời nói, hành động... - Tìm hiểu chất thơ của truyện được thể hiện ở khía cạnh nào? Ngôn ngữ kể chuyện có gì đặc sắc. - Phân tích được chủ đề, tư tưởng, thông điệp mà tác giả muốn gửi đến người đọc thông qua văn bản. - Từ văn bản truyện ngắn liên hệ với bản thân và cuộc sống xung quanh để thấy được ý nghĩa của nó đối với cuộc sống, con người. Ngoài ra, GV có thể cho HS: - So sánh văn bản với các văn bản khác có cùng đề tài - Tiến hành chơi trò chơi ô chữ để củng cố kiến thức. - Nêu cảm nghĩ về nhân vật, về tài năng của tác giả.
  8. 8 c- Sau giờ dạy: Gv cần hướng dẫn HS cách học cụ thể, cách chuẩn bị bài, tiếp tục sưu tầm, so sánh đối chiếu, vẽ tranh minh họa * Kết quả của sáng kiến : Qua thực tế áp dụng tôi thấy rằng : Các đồng nghiệp đã có sự thay đổi nhận thức đối với việc dạy truyện ngắn giàu chất trữ tình theo đặc trưng thể loại, không còn cảm thấy ngại ngần, lúng túng , giảng dạy tùy hứng hoặc chung chung; đã chủ động hơn trong các giờ dạy; hình thức dạy học cũng phong phú, sinh động hơn. Dạy học đúng đặc trưng thể loại. Về phía HS, các em rất hứng thú với việc tiếp cận các tác phẩm văn học theo đặc trưng thể loại. Bước đầu HS đã có kĩ năng nhận diện truyện ngắn giàu chất trữ tình, chỉ ra được các dấu hiệu đặc trưng của thể loại Các em tỏ ra rất hào hứng với các phần công việc được phân công, giờ học sôi nổi, nhẹ nhàng, tự nhiên hơn và đảm bảo tính chất thông tin đa chiều...Tỉ lệ HS có thêm kiến thức về truyện ngắn giàu chất trữ tình này càng tăng. Trước khi thực hiện đề tài Lớp Số Kĩ năng đọc hiểu truyện ngắn giàu chất trữ tình HS Tốt Khá Đạt Chưa đạt SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ 8A4 36 0 0 10 27,7 18 50,1 8 22,2 Sau khi thực hiện đề tài : Lớp Số Kĩ năng đọc hiểu truyện ngắn giàu chất trữ tình HS Tốt Khá Đạt Chưa đạt SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ 8A4 36 2 5,6 14 38,9 19 52,8 1 2,7 * Sản phẩm được tạo ra từ giải pháp : - Kế hoạch bài dạy minh họa cho tiết dạy truyện ngắn giàu chất trữ tình trong chương trình Ngữ văn 8.
  9. 9 - Các đề đọc hiểu truyện ngắn giàu chất trữ tình ( ngữ liệu trong và ngoài chương trình) BÀI 1. TRUYỆN NGẮN I. MỤC TIÊU 1. Năng lực - Nhận biết được một số yếu tố hình thức (cốt truyện, nhân vật, chi tiết, ngôi kể, ngôn ngữ,...) và nội dung (đề tài, chủ đề; ý nghĩa của văn bản; tư tưởng, tình cảm, thái độ của người kể chuyện;...) của truyện ngắn. - Nhận biết và sử dụng được trợ từ, thán từ trong hoạt động đọc, viết, nói, nghe. - Viết được bài văn kể lại một chuyến đi hoặc một hoạt động xã hội đã để lại cho bản thân nhiều suy nghĩ và tình cảm sâu sắc. - Biết trình bày ý kiến về một vấn đề xã hội. - Góp phần phát triển các năng lực chung như: tự học, thu thập thông tin, giao tiếp, hợp tác, tự giải quyết vấn đề. 2. Phẩm chất - Biết trân trọng những kỉ niệm tuổi thơ, tuổi học trò. - Có ý thức phát huy những cảm xúc, tình cảm đẹp, trong sáng, nhân văn về con người và cuộc sống trong trang sách cũng như ngoài đời thực. II. THIẾT BỊ DẠY HỌC VÀ HỌC LIỆU 1. Giáo viên -SGK, SGV; tài liệu tham khảo về thể loại truyện ngắn, về kĩ năng đọc hiểu và các văn bảntruyện ngắn giàu chất thơ; phiếu học tập, video bài hát Ngày đầu tiên đi học, Đất nước tôi, - Máy tính, bảng thông minh,loa, giấy A4, bút bi nhiều màu, 2. Học sinh - Đọc phần Kiến thức Ngữ văn về truyện ngắn và tưởng tượng trong tiếp nhận tác phẩm văn học; Kiến thức về trợ từ và thán từ.
  10. 10 - Thực hiện các nội dung trong phần 1. Chuẩn bị/SGK-Tr14; Đọc và thực hiện các lệnh, các câu hỏi ở phần chỉ dẫn bên phải văn bản; đọc và thực hiện các yêu cầu trong nội dung chuẩn bị ở phần tiếng Việt, phần Viết và phần Nói nghe. - Tìm đọc truyện “ Lặng lẽ SaPa”- Nguyễn Thành Long. Tìm trong tác phẩm những câu, đoạn văn miêu tả vẻ đẹp của thiên nhiên Sa Pa. III. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC A. PHẦN ĐỌC HIỂU VĂN BẢN Văn bản 1. Tôi đi học (Thanh Tịnh) 1. Hoạt động 1: Mở đầu a. Mục tiêu:Tạo không khí lớp học, khơi gợi cảm xúc về ngày đầu tiên đi học; kết nối, giới thiệu văn bản. b. Tổ chức thực hiện: - GV nêu yêu cầu: Xem video bài hát Ngày đầu tiên đi học (Nguyễn Ngọc Thiện) và cho biết: “Bài hát đã khơi gợi trong em những tình cảm, cảm xúc nào?” (Video bài hát theo đường link - HS nghe video bài hát, chuẩn bị câu trả lời. - GV gọi 2- 3 HS chia sẻ tình cảm, cảm xúc của mình. - GV cùng HS khác lắng nghe, kết nối vào bài học. 2. Hoạt động 2: Hình thành kiến thức a. Mục tiêu: - HS tìm hiểu và nhận biết vẻ đẹp về nội dung, nghệ thuật cụ thể của văn bản - Hiểu rõ tính chất đời thường, đơn giản, dường như không có chuyện, sự kiện gì đặc biệt; không có xung đột gì lớn giữa các nhân vật. - Phân tích các phương diện để thấy nhân vật “tôi” được khắc hoạ chủ yếu qua dòng cảm xúc, tâm trạng.
  11. 11 - Tìm hiểu chất trữ tình của truyện ngắn qua các yếu tố: nội dung, hình thức, ngôn ngữ. - Nhận biết và phân tích được chủ đề tư tưởng mà tác giả Thanh Tịnh muốn gửi đến bạn đọc qua văn bản, từ đó có những thay đổi trong suy nghĩ, tình cảm về thầy cô, mái trường, cha mẹ. b. Nội dung: GV sử dụng PPDH theo nhóm, nêu vấn đề và KTDH động não, khăn trải bàn, đặt câu hỏi để hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản “Tôi đi học”. Tổ chức thực hiện Dự kiến sản phẩm I. Đọc và tìm hiểu chung * HĐ1: Tìm hiểu thông tin về tác 1. Tác giả giả Thanh Tịnh - Thanh Tịnh (1911-1988), tên khai sinh - GV yêu cầu: Qua tìm hiểu bài ở là Trần Văn Ninh, quê thành phố Huế. nhà, hãy giới thiệu những thông tin - Ông viết nhiều truyện ngắn đẹp, trong về tác giả Thanh Tịnh. sáng và gợi cảm. - HS: độc lập chuẩn bị thông tin về tác giả. - GV gọi 2-3 HS chia sẻ; HS khác lắng nghe, bổ sung. - GV: tổng hợp thông tin, chiếu chân dung và chốt những nét cơ bản về tác giả Thanh Tịnh. * HĐ 2: Đọc và giải thích từ khó. 2. Văn bản - GV hướng dẫn HS lần lượt thực a. Đọc và giải thích từ khó hiện các nhiệm vụ: - Hướng dẫn đọc: giọng đọc nhẹ nhàng, (1) Chia sẻ quá trình tự đọc văn tình cảm, thiết tha, sâu lắng; thay đổi ngữ bản ở nhà (cách đọc, cách khám điệu khi đọc lời của các nhân vật; lưu ý phá văn bản theo các gợi ý đọc bên phát âm các ngữ miêu tả (mơn man, hồi phải văn bản; những lưu ý khi đọc hộp, rộn rã, âu yếm, rụt rè, lưu luyến, văn bản truyện) quyến luyến ) (2) Ngoài các từ ngữ ở cước chú, - Giải thích từ khó: em thấy cần giải nghĩa thêm những + mơn man (ĐT): lướt nhẹ trên bề mặt, gây từ ngữ nào khác trong văn bản? cảm giác dễ chịu - HS: độc lập thực hiện lần lượt các + dềnh dàng (TT): chậm chạp, thong thả, yêu cầu. không khẩn trương
  12. 12 - GV: gọi 2-3 HS chia sẻ cách đọc, + quyến luyến (ĐT): biểu thị tình cảm gắn cách khám phá văn bản theo các bó, không muốn rời xa gợi ý đọc bên phải văn bản và những lưu ý khi đọc văn bản truyện. - GV nhận xét, khen ngợi, định hướng cách đọc và đọc diễn cảm một đoạn văn bản. Gọi 03 HS đọc nối tiếp đến hết văn bản, đồng thời tổ chức giải thích một số từ ngữ khó và lưu ý HS vì sao khi đọc, cần chú ý các gợi ý ở bên phải VB. * HĐ3: Tìm hiểu các thông tin về văn bản “Tôi đi học” b. Tìm hiểu chung - GV nêu yêu cầu: Dựa vào phần PHIẾU HỌC TẬP SỐ 01 “Kiến thức Ngữ văn” và việc đọc văn bản ở nhà, hãy hoàn thành các Nội Thông tin thông tin trong phiếu học tập số 01. dung PHIẾU HỌC TẬP SỐ 01 1. Thể - Quy mô: nhỏ; loại: - Bối cảnh: không gian nhỏ, Nội dung Thông tin Truyện thời gian nhất định; ngắn 1. Thể - Quy mô: nhỏ - Nhân vật: thường ít nhân vật; loại: - Bối cảnh: không - Sự kiện: ít/đơn giản; Truyện gian...., thời gian - Chi tiết: cô đúc; ngắn ........... - Cốt truyện đơn giản, nhiều - Nhân vật: ............. dạng: sự việc khác thường kỳ - Sự kiện: lạ; sự việc giản dị, đời thường .................. mà giàu chất thơ; sự việc có nội dung trào phúng châm - Chi tiết: biếm; sự việc có nội dung giàu ................. tính, triết lý. - Cốt truyện: khai 2. Nhân - Nhân vật chính: tôi thác cốt truyện ở vật nhiều dạng - Nhân vật phụ: mẹ tôi, ông như.......................... Đốc, các bạn. .... 3. Sự (1) Cảm giác, tâm trạng của 2. Nhân - Nhân vật chính: kiện “tôi” khi mẹ dắt tay đến chính trường. vật ................................ .....
  13. 13 - Nhân vật phụ: (2) Suy nghĩ, cảm xúc của ................................ “tôi” khi bước vào sân trường ..... Mĩ Lý. (3) Tâm trạng của “tôi” khi 3. Sự kiện (1) Cảm giác, tâm ngồi trong lớp học. chính trạng của “tôi” khi đi trên đường làng đến 4. Đặc Kể lại sự việc giản dị, đời trường. điểm thường mà giàu chất thơ. (2)............................ cốt ................................ truyện ................................ ................. (3)............................ ................................ ................................ ................. 4. Đặc ................................ điểm cốt ................................ truyện ................................ .................. - HS: hoạt động nhóm cặp, trao đổi và thống nhất các thông tin hoàn thành phiếu học tập; GV quan sát, hỗ trợ các nhóm HS. - GV: gọi 01 nhóm HS trình bày kết quả thảo luận bằng trò chơi hỏi - đáp theo cặp đôi; nhóm khác lắng nghe, đối chiếu với PHT của nhóm và nhận xét, bổ sung. - GV nhận xét, đánh giá hiệu quả hoạt động nhóm và chốt kiến thức trong PHT. II. Đọc và tìm hiểu chi tiết 1. Bối cảnh và nhân vật của truyện * HĐ 1. Tìm hiểu bối cảnh, nhân ngắn Tôi đi học vật và ý nghĩa của văn bản - GV hướng dẫn HS làm việc nhóm bàn hoàn thành các nội dung trong PHT số 02 trong thời gian 10 phút.
  14. 14 PHIẾU HỌC TẬP SỐ 02 Tìm hiểu bối cảnh và nhân vật trong truyện ngắn Tôi đi học Yêu cầu Các chi tiết tiêu biểu 1. Nhân Thời .............. vật “tôi” gian .............. nhớ lại ..... những kỉ niệm của Không .............. buổi tựu gian .............. trường .............. đầu tiên .............. vào thời ........... gian và không gian như thế nào? 2. Trong phần (1), .............. cảnh vật và con .............. người được miêu tả .............. như thế nào qua cái .............. nhìn của nhân vật ........... “tôi”? 3. Tâm trạng của .............. nhân vật “tôi” trong .............. ngày đầu tiên đến lớp .............. có sự thay đổi như .............. thế nào? Chỉ ra một ........... số chi tiết tiêu biểu .............. trong truyện thể hiện .............. những tâm trạng ấy. .............. (Gợi ý: sự thay đổi .............. trong cảm xúc, suy ........... nghĩ của “tôi” từ buổi .............. sáng khi đi trên con .............. đường đến trường .............. cho đến lúc bước .............. trong sân trường và
  15. 15 cuối cùng là ngồi .............. trong lớp học) .............. 4. Chỉ ra tác dụng của một số câu văn miêu tả và hình ảnh so sánh trong việc khắc họa tâm trạng nhân vật “tôi”. Qua đó, em thấy “tôi” là một cậu bé như thế nào? .................................................... .................................................... ................. 5. Văn bản Tôi đi học đã nói giúp những suy nghĩ và tình cảm gì của rất nhiều người đọc? Điều đó còn có ý nghĩa với cuộc sống hôm nay như thế nào? .................................................... .................................................... ................. - HS căn cứ vào phần đọc, tổ chức nhóm, thảo luận thống nhất hoàn thành PHT; GV quan sát, hỗ trợ. - GV gọi05nhóm HS bất kì chiếu PHT và trình bày kết quả thảo luận lần lượt theo năm yêu cầu trong PHT; các nhóm còn lại quan sát, lắng nghe, đối chiếu và nhận xét, bổ sung. - GV tổng hợp ý kiến, chốt kiến thức lần lượt theo từng nội dung yêu cầu và giảng bình. GV bình:Buổi tựu trường đầu tiên của nhân vật "tôi" đã được tác giả Thanh Tịnh tái hiện rất chân thực, sinh động và tràn đầy cảm xúc, từng trạng thái và diễn biến tâm trạng của nhân vật được thể hiện theo trình tự không gian, thời gian rõ ràng. Với mỗi không gian, thời gian tâm trạng ấy lại thay đổi, lại có những điểm nhấn riêng, chung quy lại tất cả những tâm trạng ấy đã làm nên một kỉ niệm sâu sắc, đẹp đẽ, khó có thể phai mờ trong tâm trí của nhân vật nói riêng và người đọc nói chung. Được viết lên bằng chính kỉ niệm của những ngày thơ ấu, của ngày đầu tiên đến trường, những trang văn trong truyện ngắn Tôi đi học đầy chất thơ và sâu lắng trữ tình. Tâm trạng của nhân vật tôi lần đầu tiên đến trường là tâm trạng của biết bao người đã trải qua thời thơ ấu dưới mái trường.
  16. 16 Nhà văn Thanh Tịnh đã nói hộ ta biết bao nhiêu điều về cái ngày đầu tiên lưu luyến ấy, khiến ai đã một lần đọc Tôi đi học không thổ nào không cảm nhận như’ chính là cảm xúc của mình, là nỗi lòng mình vậy. Đó là sức lây lan kỳ diệu của thiên truyện ngắn trữ tình này * Dự kiến sản phẩm PHIẾU HỌC TẬP SỐ 02 Tìm hiểu bối cảnh và nhân vật trong truyện ngắn Tôi đi học Yêu cầu Các chi tiết tiêu biểu 1. Nhân vật “tôi” nhớ Thời Hằng năm cứ vào cuối thu lại những kỉ niệm của gian buổi tựu trường đầu tiên vào thời gian và không Không Lá ngoài đường rụng nhiều, trên trời gian như thế nào? gian không có những đám mây bàng bạc 2. Trong phần (1), cảnh vật và con - Cảnh vật được miêu tả qua các chi tiết về người được miêu tả như thế nào không gian, thời gian: một buổi mai đầy qua cái nhìn của nhân vật “tôi”? sương thu và gió lạnh...con đường làng dài và hẹp...cảnh vật xung quanh đều thay đổi. - Hình cảnh con người được miêu tả qua cụ thể: Mẹ âu yếm nắm tay tôi dẫn đi, mấy cậu nhỏ trạc bằng tuổi tôi áo quần tươm tất, nhí nhảnh gọi tên nhau hay trao sách vở cho nhau xem... Mấy cậu đi trước ôm sách vở nhiều lại kèm cả bút thước nữa. 3. Tâm trạng của nhân vật “tôi” - Ban đầu là bâng khuâng, phấn chấn đi trong ngày đầu tiên đến lớp có sự bên mẹ trên con đường đến trường: Trong thay đổi như thế nào? Chỉ ra một số chiếc áo vải dù đen dài tôi cảm thấy mình chi tiết tiêu biểu trong truyện thể trang trọng và đứng đắn, muốn thử sức hiện những tâm trạng ấy. (Gợi ý: sự cầm bút thước, ý nghĩ “chắc chỉ người thay đổi trong cảm xúc, suy nghĩ thạo mới cầm nổi bút thước”... của “tôi” từ buổi sáng khi đi trên - Sau đó chuyển sang bỡ ngỡ, rụt rè “đứng con đường đến trường cho đến lúc nép bên người thân, chỉ dám nhìn một nửa bước trong sân trường và cuối cùng hay dám đi từng bước nhẹ”, “như con là ngồi trong lớp học) chim con đứng bên bờ tổ, nhìn quãng trời rộng muốn bay, nhưng còn ngập ngừng e sợ”. - Tiếp đến là cảm thấy lúng túng, vụng về: thấy mình chơ vơ là lúc này, cảm thấy như quả tim tôi ngừng đập.. Sau đó, giật mình
  17. 17 khi nghe gọi đến tên rồi bật khóc:“Tôi bất giác quay lưng lại rồi dúi đầu vào lòng mẹ tôi nức nở khóc theo.” - Cuối cùng là cảm giác thân quen khi ngồi trong lớp học và ý thức việc học tập :“Tôi nhìn người bạn tí hon ngồi bên, cảm thấy không có sự xa lạ chút nào [...] Tôi vòng tay lên bàn chăm chỉ nhìn thấy viết và lẩm nhẩm đánh vần đọc. 4. Chỉ ra tác dụng của một số câu văn miêu tả và hình ảnh so sánh trong việc khắc họa tâm trạng nhân vật “tôi”. Qua đó, em thấy “tôi” là một cậu bé như thế nào? → Các câu văn miêu tả giúp việc miêu tả tâm lí nhân vật nhẹ nhàng, chân thực, tinh tế và đầy cảm xúc. Khắc họa thành công nhân vật “tôi” hồn nhiên, trong sáng nhưng cũng rất nhạy cảm và đã bắt đầu có ý thức về sự trưởng thành ngay trong ngày đầu tiên đi học. 5. Văn bản Tôi đi học đã nói giúp những suy nghĩ và tình cảm gì của rất nhiều người đọc? Điều đó còn có ý nghĩa với cuộc sống hôm nay như thế nào? - Câu chuyện ghi lại cảm xúc của buổi đầu tiên đến trường - buổi học mà hầu hết mọi người đã từng trải qua, vì thế nói hộ được suy nghĩ, tình cảm và tâm trạng của rất nhiều người đọc. - Những cảm xúc, suy nghĩ và tình cảm trong sáng, chân thực ấy vẫn có trong mỗi HS hôm nay. Với người lớn, dù đã trưởng thành nhưng mỗi khi nhớ về ngày đầu tiên đến trường của mình vẫn đồng cảm với những gì nhà văn Thanh Tịnh mô tả trong truyện Tôi đi học. Nhà văn đã nói giúp mọi người những suy nghĩ, tình cảm ấy. * HĐ2.Tìm hiểu đặc điểm của truyện 2. Đặc điểm của truyện ngắn giàu ngắn giàu chất thơ trong “Tôi đi học” chất thơ trong “Tôi đi học” - GV hướng dẫn HS thảo luận theo kĩ - Về nội dung: tập trung miêu tả những thuật khăn trải bài để thực hiện yêu cảm xúc và diễn biến tâm trạng vừa vui cầu sau: Truyện ngắn Tôi đi học là mừng, phấn chấn vừa ngỡ ngàng, lo một truyện ngắn giàu chất thơ. Theo sợ, của nhân vật “tôi” trong buổi đầu em, điều gì tạo nên đặc điểm ấy (về tiên đến trường một cách chân thực và nội dung, hình thức, ngôn ngữ)? cảm động. - HS tổ chức nhóm 4; ghi ý kiến cá - Về hình thức: nhân vào các góc, sau đó thống nhất + Về cốt truyện rất đơn giản, nhẹ các ý chung ghi vào ô giữa. nhàng, không có tình huống gay cấn, - GV gọi đại diện 2-3 nhóm HS trình không nhiều sự kiện. bày kết quả; nhóm khác nghe-bổ sung.
  18. 18 - GV tổng hợp ý kiến, chốt kiến thức + Về ngôn ngữ miêu tả (tả cảnh vật và cơ bản đồng thời đưa ra một số dẫn tâm trạng) tinh tế, giàu hình ảnh sinh chứng để phân tích tác dụng của ngôn động với nhiều biện pháp tu từ, nhất là ngữ miêu tả trong truyện. ví von, so sánh. GV bình: Việc sử dụng những câu văn giàu cảm xúc với giọng điệu nhẹ nhàng, những hình ảnh so sánh độc đáo và việc sử dụng hàng loạt các từ láy chính là một trong số những biểu hiện của chất trữ tình trong tác phẩm. Trước hết, trong tác phẩm, tác giả đã sử dụng hàng loạt câu văn với những hình ảnh so sánh hấp dẫn "...như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng", "...như một làn mây lướt ngang trên ngọn núi", "...như con chim con đứng bên bờ tổ, nhìn quãng trời rộng muốn bay, nhưng còn ngập ngừng e sợ"... Những hình ảnh ấy không những làm cho câu văn trở nên sinh động, hấp dẫn mà còn góp phần to lớn vào việc diễn tả, thể hiện cảm xúc của nhân vật trữ tình. Thêm vào đó, chất trữ tình trong tác phẩm còn được thể hiện rõ nét qua việc tác giả sử dụng hàng loạt các từ láy. Đó là những từ tượng hình để gợi nên khung cảnh thiên nhiên, cảnh vật mơ mộng, trữ tình "bàng bạc", "quang đãng", "trang trọng", ... Và đặc biệt, đó còn là hàng loạt các từ láy có giá trị, vai trò to lớn trong việc diễn tả tâm trạng rụt rè, bỡ ngỡ, xen chút lo lắng của nhân vật tôi trong buổi tựu trường tựu trường đầu tiên "rụt rè", "vẩn vơ", "run run", ... Tất cả, tất cả những hình ảnh so sánh cùng việc sử dụng hàng loạt các từ láy đã làm cho những câu văn của "Tôi đi học" trở nên giàu tính nhạc, giàu chất thơ và giàu tính trữ tình. Tóm lại, "Tôi đi học" của Thanh Tịnh là một câu chuyện chân thực, sâu sắc. Tác phẩm ấy để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc không chỉ bởi những ý nghĩa về mặt nội dung mà còn bởi đọc tác phẩm người đọc có thể cảm nhận một cách chân thực và sâu sắc chất thơ, chất trữ tình bàng bạc ẩn chứa trong từng con chữ. III. Tổng kết - GV hướng dẫn HS hoạt động nhóm cặp để hoàn thành các thông tin khái quát về giá trị nội dung, nghệ thuật của văn bản “Tôi đi học”, cách đọc hiểu văn bản truyện ngắn giàu chất thơ qua PHT sau: PHIẾU HỌC TẬP SỐ 03 Tổng kết văn bản “Tôi đi học” Nghệ thuật Nội dung - Cốt truyện .............., chủ yếu là - Truyện ghi lại những tình cảm, cảm xúc miêu tả .........và............... nhân .................................của nhân vật “tôi” vật trong buổi đi học đầu tiên.
  19. 19 - Sử dụng ngôn ngữ miêu tả - Truyện gây được sự ................................. ............., giàu hình ảnh và trong mỗi người đọc. ............................... Cách đọc hiểu văn bản truyện ngắn - Tóm tắt truyện, chú ý các yếu tố: bối cảnh, nhân vật, . - Xác định được nhân vật chính và phân tích các phương diện mà nhân vật được miêu tả như: ........................................................................................................ - Tìm hiểu một số yếu tố cơ bản để thấy rõ của truyện ngắn giàu chất thơ (nội dung, hình thức, ngôn ngữ). - Liên hệ, kết nối với kinh nghiệm của bản thân để .. - HS chia nhóm cặp trao đổi và hoàn thiện PHT trong thời gian 5 phút. - GV chiếu 1 PHT của 3 nhóm bất kì và yêu cầu trình bày lần lượt 3 nội dung; nhóm khác đối chiếu, nhận xét, bổ sung. - GV tổng hợp ý kiến, chốt kiến thức về nội dung và nghệ thuật của văn bản, và cách đọc hiểu truyện ngắn giàu chất thơ. *Dự kiến sản phẩm: Nghệ thuật Nội dung - Cốt truyện đơn giản, chủ yếu là - Truyện ghi lại những tình cảm, cảm xúc miêu tả cảnh vật và tâm trạng nhân trong sáng, chân thực của nhân vật “tôi” vật. trong buổi đi học đầu tiên. - Sử dụng ngôn ngữ miêu tả tinh - Truyện gây được sự xúc động, đồng cảm tế, giàu hình ảnh và đậm chất thơ. trong mỗi người đọc. Kĩ năng đọc hiểu văn bản truyện ngắn giàu chất thơ - Tóm tắt truyện, chú ý các yếu tố: bối cảnh, nhân vật, sự kiện, chi tiết, đặc điểm cốt truyện.
  20. 20 - Xác định được nhân vật chính và phân tích các phương diện mà nhân vật được miêu tả như: ngoại hình, lời nói, hành động, mối quan hệ với các nhân vật khác, đặc biệt là tâm trạng, cảm xúc. - Tìm hiểu một số yếu tố cơ bản để thấy rõ đặc điểm của truyện ngắn giàu chất thơ (nội dung, hình thức, ngôn ngữ). - Liên hệ, kết nối với kinh nghiệm của bản thân để hiểu sâu sắc về nội dung tư tưởng của truyện. 3. Hoạt động 3,4: Luyện tập và vận dụng a. Mục tiêu: Tiếp tục khắc sâu các chi tiết giàu chất trữ tình trong văn bản; khuyến khích sự sáng tạo, tưởng tượng và sự trải nghiệm của HS. b. Tổ chức thực hiện: - GV yêu cầu HS thực hiện 2 yêu cầu sau: (1) Em thích câu văn/đoạn văn miêu tả nào nhất trong văn bản? Vì sao? (2) Bằng sự trải nghiệm của bản thân, hãy tưởng tượng mình là “người bạn tí hon” hôm ấy ngồi cạnh nhân vật “tôi” trong truyện, em sẽ nói với “tôi” điều gì? - HS thực hiện nhiệm vụ 1 ở lớp, nhiệm vụ 2 ở nhà theo hình thức cá nhân. - GV tổ chức cho HS chia sẻ câu trả lời trước lớp; khen ngợi, khuyến khích và định hướng kĩ năng trình bày cho HS 7.2. Thuyết minh về phạm vi áp dụng sáng kiến - Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp khi giảng dạy truyện ngắn giàu chất trữ tình trong chương trình Ngữ văn lớp 8 đã được bản thân tôi áp dụng trong năm học 2023-2024. Và chia sẻ với các đồng nghiệp. Những kinh nghiệm được đúc rút có thể được áp dụng rộng rãi trong các nhà trường THCS vì tính khả thi cao. - Các nhà trường hiện nay đều có đủ điều kiện để áp dụng kinh nghiệm. 7.3. Thuyết minh về lợi ích kinh tế, xã hội của sáng kiến Sáng kiến kinh nghiệm sẽ giúp các đồng nghiệp có nhìn đúng đắn về việc giảng dạy tác phẩm văn học theo đặc trưng thể loại. Từ đó nâng cao chất lượng dạy và học. Bồi đắp cho HS tình yêu cuộc sống, những tình cảm tính nhân văn; niềm tự hào, yêu mến với truyện ngắn giàu chất trữ tình Việt Nam .