Nâng cao chất lượng giáo dục bằng cách sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Toán 7

pdf 16 trang Kim Kim 11/03/2026 30
Bạn đang xem tài liệu "Nâng cao chất lượng giáo dục bằng cách sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Toán 7", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfnang_cao_chat_luong_giao_duc_bang_cach_su_dung_so_do_tu_duy.pdf

Nội dung text: Nâng cao chất lượng giáo dục bằng cách sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Toán 7

  1. 1 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc –––––––––––––––––––––– THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN 1. Tên sáng kiến: “Nâng cao chất lượng giáo dục bằng cách sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Toán 7” 2. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: 15/01/2023 3. Các thông tin cần bảo mật: Không có 4. Mô tả giải pháp cũ thường làm: Trước đây, với phương pháp cũ giáo viên thường chỉ thuyết trình, triển khai chưa hệ thống trong bài, chương, tính logic giữa các phần kiến thức chưa thể hiện rõ khiến cho nhiều giờ học căng thẳng, khô cứng, học sinh khó tiếp thu. Nhiều học sinh học tập một cách thụ động chưa rèn luyện khả năng tư duy, chỉ đơn thuần nhớ kiến thức một cách máy móc, học bài nào biết bài đó, dẫn đến tình trạng: - Học sinh ghi nhớ kiến thức như cái máy, thiếu sự hệ thống, không nhớ được kiến thức trọng tâm, không biết liên kết các kiến thức có liên quan với nhau nên các em mau quên kiến thức. - Nhiều học sinh có cách học chủ yếu là nhồi nhét, học thụ động, học để đối phó. Một số học sinh có lực học yếu, chưa nắm chắc lý thuyết nên dẫn đến các em lúng túng khi làm bài tập. - Học sinh chủ yếu được rèn luyện kĩ năng làm bài cá nhân, nên khả năng phối hợp với nhau làm việc một cách tích cực là không có. Học sinh không được thể hiện những quan điểm, những cái nhìn riêng về một vấn đề, không phát huy hết được những năng lực tư duy, sáng tạo, khả năng tổng hợp kiến thức để giải quyết vấn đề của mình.
  2. 2 5. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp sáng kiến: Đối với ngày nay, việc áp dụng giải pháp sáng kiến trong giảng dạy toán học trở nên vô cùng cần thiết. Các kiến thức về môn toán giúp mọi người giải quyết các vấn đề liên quan đến thực tế và góp phần đáng kể vào sự phát triển của xã hội. Đổi mới phương pháp dạy học là nhu cầu tất yếu của giáo viên, bởi vì đổi mới là sự cải tiến, nâng cao chất lượng phương pháp dạy học đang sử dụng, là sự bổ sung, phối hợp nhiều phương pháp mới để khắc phục mặt hạn chế của phương pháp cũ nhằm đem lại hiệu quả dạy học cao hơn, đặc biệt trong chương trình sách giáo khoa mới. Phương pháp dạy học là thành tố trung tâm, giáo viên phải am hiểu sâu sắc nội dung dạy học, làm chủ kiến thức, biết chế biến nó theo ý đồ sư phạm và biết cách truyền tải nó đến với học sinh một cách dễ hiểu nhất và phải dễ nhớ nhất. Mặt khác học sinh là chủ thể trong học tập và tu dưỡng. Chủ thể phải tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo trong quá trình học tập. Chương trình môn Toán ở lớp 7 là một bộ phận của chương trình môn Toán cấp THCS. Thông qua các hoạt động dạy học Toán, giáo viên cần giúp học sinh nắm vững kiến thức tổng quát, nêu các nhận xét hoặc các qui tắc ở dạng khái quát nhất định. Đây là cơ hội phát triển năng lực trừu tượng hoá, khái quát hoá trong học Toán ở giai đoạn lớp 7. Là một giáo viên dạy Toán, sau nhiều năm công tác tại trường THCS Hoàng Hoa Thám - Thành phố Bắc Giang - Tỉnh Bắc Giang, tôi luôn nghĩ dạy làm sao để nâng cao chất lượng môn học. Tôi đã mạnh dạn áp dụng một số phương pháp mới trong việc dạy học để đạt hiệu quả cao nhất. Trong đó, tôi đã áp dụng giải pháp “Nâng cao chất lượng giáo dục bằng cách sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Toán 7” áp dụng cho hai lớp 7B, 7D năm học 2022 - 2023 trường THCS Hoàng Hoa Thám mà tôi sẽ trình bầy sau đây. Kết quả khảo sát trước khi áp dụng sáng kiến của 2 lớp đại trà như sau:
  3. 3 KẾT QUẢ ĐIỂM TRƯỚC KHI VẬN DỤNG SÁNG KIẾN Lớp Sĩ số Tốt Khá Đạt Chưa đạt SL % SL % SL % SL % 7B +7D 77 16 21 22 29 25 32 14 18 6. Mục đích của giải pháp sáng kiến: - Tăng sự hứng thú trong học tập, phát huy khả năng sáng tạo, năng lực tư duy của học sinh: + Sơ đồ tư duy có sử dụng hình ảnh và màu sắc sẽ dễ dàng khơi gợi niềm yêu thích học tập hơn là những con chữ dày chi chít. + Khi thiết kế sơ đồ tư duy, các em học sinh được tự do thoải mái sáng tạo theo ý mình để thể hiện phong cách cá nhân, dấu ấn riêng của mỗi em, phát huy được năng khiếu hội họa, năng lực công nghệ thông tin khi sử dụng phần mềm thiết kế hỗ trợ. - Tiết kiệm thời gian: Thay vì phải ghi chép các định nghĩa, tính chất, định lý rất dài, học sinh chỉ cần tóm tắt các từ khóa chính một cách cô đọng, xúc tích mà vẫn đảm bảo kiến thức cần ghi nhớ. - Nhìn thấy được bức tranh tổng thể: Khi nhìn vào sơ đồ tư duy, học sinh sẽ có cái nhìn tổng quát về những kiến thức mình cần ghi nhớ, đâu là trọng tâm, đâu là các ý chính, đâu là các ý phụ. - Ghi nhớ tốt hơn: Việc học và ghi nhớ các kiến thức bài cũ, kiến thức cuối bài, cuối chương, kiến thức tổng hợp trước kì thi sẽ trở nên dễ dàng hơn cho học sinh bởi nhìn vào sơ đồ tư duy, các em có thể định hình được đâu là ý chính cần ghi nhớ, từ đó có thể tự phát triển các ý phụ theo ý tưởng và tư duy của bản thân mình. Việc tổng hợp tất cả kiến thức vào sơ đồ tư duy giúp học sinh không bỏ sót các chi tiết khi học.
  4. 4 7. Nội dung 7.1. Thuyết minh giải pháp mới: a) Bản chất giải pháp: * Khái niệm: Sơ đồ tư duy là phương pháp dạy học chú trọng đến cơ chế ghi nhớ, dạy cách học, cách tự học nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức, ... bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực. * Cấu tạo: Ở giữa sơ đồ là một hình ảnh trung tâm (hay một cụm từ) khái quát chủ đề. Gắn liền với hình ảnh trung tâm là các nhánh cấp 1 mang các ý chính làm rõ chủ đề. Phát triển các nhánh cấp 1 là các nhánh cấp 2 mang các ý phụ làm rõ mỗi ý chính. Sự phân nhánh cứ thế tiếp tục để cụ thể hóa chủ đề, nhánh càng xa trung tâm thì ý càng cụ thể, chi tiết. Có thể nói, sơ đồ tư duy là một bức tranh tổng thể, một mạng lưới tổ chức, liên kết khá chặt chẽ theo cấp độ để thể hiện một nội dung, một đơn vị kiến thức nào đó.
  5. 5 * Quy trình tổ chức hoạt động tập vẽ sơ đồ tư duy trên lớp: Hoạt động 1: giáo viên giao nhiệm vụ cho học sinh theo nhóm, hoặc cá nhân: thiết kế một sơ đồ tư duy đơn giản dạng sơ đồ nhánh về một kiến thức cụ thể mà giáo viên đã chọn. Hoạt động 2: Cho học sinh thiết kế sơ đồ tư duy theo nhóm hay cá nhân. Hoạt động 3: Học sinh hoặc đại diện của các nhóm học sinh lên báo cáo, thuyết minh về sơ đồ tư duy mà nhóm mình đã thiết kế. Hoạt động 4: Học sinh thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện sơ đồ tư duy. Giáo viên sẽ là người cố vấn, là trọng tài giúp học sinh hoàn chỉnh sơ đồ tư duy. Hoạt động 5: Giáo viên rút kinh nghiệm và chốt lại kiến thức về cách vẽ một sơ đồ tư duy. * Áp dụng vào thực tiễn dạy học: Bản thân tôi luôn chú trọng hướng dẫn học sinh thiết kế và sử dụng sơ đồ tư duy. Các em có thể thiết kế sơ đồ tư duy bằng tay hoặc sử dụng các phần mềm vẽ sơ đồ tư duy trên mạng Internet để nâng cao hiệu quả học tập cũng là để các em có điều kiện học hỏi nâng cao trình độ tin học và ứng dụng công nghệ thông tin trong học tập Đồng thời, giáo viên hướng dẫn học sinh sử dụng sơ đồ tư duy vào các hoạt động học tập cụ thể như chuẩn bị bài mới hay hệ thống hóa kiến thức sau mỗi bài học. Đặc biệt, tôi luôn lưu ý các em tính chất “tư duy” của sơ đồ để tránh tình trạng các em quá chú trọng trang trí “hoa lá cành” khiến sơ đồ tư duy trở nên rối mắt, hay quá chi tiết hóa kiến thức khiến các em khó hình dung kiến thức bài học. Giáo viên có thể cho học sinh quan sát thực tế những sơ đồ tư duy thiếu logic, chưa khoa học đó để các em dễ nhận ra và tự rút kinh nghiệm cho bản thân. Khi kiểm tra, đánh giá học sinh, giáo viên có thể hỏi theo hệ thống ý, qua đó rèn luyện tư duy logic cho các em. Tóm lại, sơ đồ tư duy là một công cụ hữu hiệu cho việc dạy và học trong nhà trường hiện nay.
  6. 6 b) Tính mới, tính sáng tạo của biện pháp: Thực ra, sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy và học không phải là một phương pháp dạy học mới nhưng tính mới của biện pháp mà tôi áp dụng là: - Hướng dẫn học sinh sử dụng sơ đồ tư duy trong việc học môn Toán ở nhiều hoạt động học tập: từ việc chuẩn bị bài mới, đến việc ôn tập hệ thống kiến thức bài học. Hơn nữa, sơ đồ tư duy mà tôi hướng dẫn học sinh sử dụng là dạng sơ đồ nhánh đơn giản, cụ thể, thiết thực, không quá phức tạp, màu mè như nhiều sơ đồ tư duy thường thấy trên mạng Internet hoặc các tài liệu, sách tham khảo trước kia. - Không chỉ áp dụng với học sinh mà bản thân tôi còn vận dụng biện pháp này vào nhiều khâu trong quá trình dạy học: ghi bảng, củng cố kiến thức sau mỗi bài học và kiểm tra đánh giá thường xuyên * Kết quả đạt được của sáng kiến: +) Với học sinh: - Trang bị cho học sinh phương pháp học tập khoa học, hiệu quả: Trước đây, việc chuẩn bị bài của học sinh chỉ rất thụ động. Học sinh thường đọc nhưng ít suy nghĩ hoặc chép bài của bạn một cách “vô thức” vào 15 phút đầu giờ Khi sử dụng sơ đồ tư duy trong việc chuẩn bị bài mới (dưới sự hướng dẫn của giáo viên), học sinh buộc phải đọc và hiểu nội dung, phải hệ thống kiến thức về bài học một cách tổng quát bằng sơ đồ tư duy. Từ đó, các em hình dung được cấu trúc bài học; nắm được những kiến thức cơ bản trong bài học. Từ trước đến nay, việc học bài cũ, kiểm tra, nhất là thi cử đã trở thành nỗi ám ảnh đối với mỗi học sinh. Trước ngày thi, các em thường phải “tiêu hóa” một lượng lớn kiến thức và bài tập khổng lồ của nhiều môn học ... Học sinh chỉ nhìn vào những trang vở dày đặc những chữ là thấy “nản” không còn tâm trí nào để học. Khi sử dụng sơ đồ tư duy, sau mỗi bài học, giáo viên yêu cầu học sinh tự hệ thống kiến thức trọng tâm, kiến thức cần nhớ của bài học bằng sơ đồ tư duy vào vở. Kiến thức bài học được hệ thống hóa một cách khoa học, ngắn gọn chỉ trong một hai trang vở. Từ đó, các em nắm được kiến thức cơ bản một cách khoa học, sâu sắc; dễ ghi nhớ kiến thức; dễ ôn tập, xem lại kiến thức khi cần một cách nhanh chóng, dễ dàng.
  7. 7 Hình thành, phát triển năng lực và phẩm chất toàn diện cho học sinh: tư duy, sáng tạo, hội họa, hợp tác, thuyết trình, Khả năng tư duy lô gic, khoa học: Sơ đồ tư duy là công cụ hệ thống lại kiến thức cơ bản một cách khoa học, dễ nhìn. Khi thiết kế cũng như học tập củng cố kiến thức bằng sơ đồ tư duy, học sinh không chỉ dễ dàng nắm được kiến thức cơ bản một cách có hệ thống, biết cách trình bày kiến thức bằng sơ đồ tư duy, mà còn phát triển năng lực tư duy lô gic, khoa học cho các em. Năng lực tư duy
  8. 8 Phát huy năng khiếu hội họa, sáng tạo cho học sinh: Sơ đồ tư duy là một hình thức ghi chép theo mạch tư duy của mỗi người bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực. Đặc biệt đây là một sơ đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết khắt khe như bản đồ địa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một chủ đề nhưng mỗi người có thể “thể hiện” nó dưới dạng sơ đồ tư duy theo một cách riêng. Do đó, nó phát huy được năng khiếu hội họa và khả năng sáng tạo trong mỗi học sinh. Năng khiếu hội họa và sáng tạo
  9. 9 Kĩ năng hợp tác và làm việc nhóm tạo ra các sơ đồ đẹp Kĩ năng thuyết trình
  10. 10 Kĩ năng thuyết trình - Tăng cường hứng thú học tập: “Người thầy trung bình chỉ biết nói, người thầy giỏi biết giải thích, người thầy xuất chúng biết minh họa, người thầy vĩ đại biết cách truyền cảm hứng”. Hứng thú học tập của học sinh là một yếu tố quan trọng làm nên chất lượng. Trước đây, việc phải ghi nhớ nhiều, các kiến thức khó và rời rạc làm cho học sinh ít hứng thú học tập. Khi sử dụng sơ đồ tư duy trong học tập, học sinh sẽ thấy được hoc Toán không khó điều đó sẽ khiến học sinh không còn “ngại học”, “sợ học” đồng thời thắp lên được ngọn lửa đam mê cho các em. - Chất lượng học tập học sinh được nâng lên: Học sinh nắm được kiến thức cơ bản của bài học một cách logic, hệ thống kiến thức rõ ràng dẫn đến việc áp dụng kiến thức dễ dàng hơn.
  11. 11 Tóm lại, sử dụng sơ đồ tư duy trong học tập là phương pháp học tập đơn giản nhưng mang lại hiệu quả cao: kích thích hứng thú học tập và khả năng sáng tạo của học sinh; phát huy tối đa tiềm năng ghi nhớ của bộ não; tránh lối học vẹt, thuộc một cách máy móc. +) Với giáo viên: - Đổi mới phương pháp giảng dạy môn Toán theo hướng tích cực: Lấy học sinh làm trung tâm; giáo viên chỉ là người gợi ý, định hướng; tương tác giữa thầy và trò, giữa trò với trò tích cực hơn; kiến thức bài học được trình bày và tiếp thu một cách có hệ thống, logic, khoa học; học sinh chủ động, tích cực, tự giác, sáng tạo, hứng thú hơn trong quá trình học tập ; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy và học - Hiệu quả khi dạy bài mới và ghi bảng bằng sơ đồ tư duy: Sử dụng sơ đồ tư duy là phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm, giáo viên là người gợi ý, hướng dẫn; học sinh là người thực hiện; phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh. Sơ đồ tư duy bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện được các kĩ năng cơ bản: tư duy, sáng tạo, thuyết trình ; đem lại hứng thú học tập cho học sinh. Trình bày bài giảng bằng sơ đồ tư duy là cách học khoa học: hệ thống ý được trình bày rõ ràng, mối liên hệ giữa các ý được thể hiện rõ. Qua đó, học sinh chỉ cần nhìn lên bảng là có thể ghi nhớ kiến thức ngay tại lớp và dễ dàng vẽ lại sơ đồ tư duy để củng cố kiến thức bài học.
  12. 12 Giáo viên hệ thống kiến thức chương bằng sơ đồ Hình ảnh sử dụng sơ đồ tư duy trong giảng dạy
  13. 13 - Hiệu quả khi sử dụng sơ đồ tư duy trong việc hệ thống, củng cố kiến thức cơ bản cho học sinh sau mỗi phần, hoặc mỗi bài học: Sau mỗi bài học, giáo viên củng cố lại kiến thức bài học bằng sơ đồ tư duy trên máy chiếu, đồng thời yêu cầu học sinh vẽ sơ đồ tư duy vào vở. Kiến thức bài học được trình bày ngắn gọn, hệ thống, khoa học giúp các em dễ ghi nhớ kiến thức cơ bản, học đến đâu nắm vững kiến thức đến đó, tiện lợi khi ôn tập - Đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá: Linh hoạt, đa dạng hóa các hình thức kiểm tra, đánh giá học sinh. Trước đây, việc kiểm tra, đánh giá thường xuyên mới chỉ thực hiện lúc đầu giờ và tập trung vào việc học thuộc bài cũ, kiểm tra vở ghi, vở bài tập của học sinh, kiểm tra viết 15 phút, Khi sử dụng sơ đồ tư duy, giáo viên có thể kiểm tra, đánh giá trong cả quá trình; đa dạng hóa hình thức kiểm tra đánh giá thường xuyên: bằng việc yêu cầu học sinh vẽ sơ đồ tư duy hoặc thuyết trình kiến thức bài học cũ hoặc mới bằng sơ đồ tư duy - Tận dụng và phát huy tối đa các phương tiện, thiết bị dạy học: Máy tính, máy chiếu, bảng phụ, vở học sinh, các phần mềm hỗ trợ vẽ sơ đồ tư duy - Giáo viên có điều kiện học tập nâng cao trình độ: Sử dụng phần mềm vẽ sơ đồ tư duy, ứng dụng công nghệ thông tin trong việc dạy và học * Sản phẩm được tạo ra từ sáng kiến: - Thái độ, hứng thú học tập của học sinh đối với bộ môn Toán được cải thiện rõ rệt. - So sánh kết quả khảo sát khi chưa áp dụng giải pháp với kết quả khảo sát cuối năm học sinh đã sử dụng sơ đồ tư duy vào việc học thì số lượng học sinh nắm chắc lí thuyết tăng lên đáng kể, từ việc hiểu lí thuyết các em đã vận dụng rất tốt
  14. 14 vào làm các dạng bài tập. Kết quả áp dụng được minh hoạ một phần trong bảng kết quả khảo sát sau khi áp dụng giải pháp đối với 2 lớp đại trà do cá nhân tôi áp dụng như sau: KẾT QUẢ ĐIỂM SAU KHI VẬN DỤNG SÁNG KIẾN Sĩ Lớp Tốt Khá Đạt Chưa đạt số SL % SL % SL % SL % 7B + 7D 77 24 31 27 35 20 26 6 8 7.2. Thuyết minh về phạm vi áp dụng sáng kiến: * Khả năng áp dụng cao: - Áp dụng đối với tất cả các dạng bài học. - Áp dụng rộng rãi ở các khối lớp. - Áp dụng đối với tất cả các đối tượng học sinh: học sinh thiên hướng theo các môn khoa học tự nhiên và khoa học xã hội; học sinh khá, giỏi và học sinh trung bình, yếu. - Áp dụng rộng rãi đối với tất cả các trường trong thành phố. * Điều kiện áp dụng đơn giản: - Học sinh chỉ cần chuẩn bị: giấy, bút, màu - Học sinh không phải qua trải nghiệm thực tế mới có thể thực hiện. - Có nhiều phần mềm vẽ sơ đồ tư duy hỗ trợ. * Phạm vi áp dụng tại đơn vị: - Giải pháp đã được áp dụng thực hiện cho học sinh lớp 7B, 7D trường THCS Hoàng Hoa Thám năm học 2022-2023 và thu được kết quả tốt, như đã trình bày ở trên. - Giải pháp có thể dùng cho cả giáo viên giảng dạy và học sinh các lớp 7 tại trường THCS Hoàng Hoa Thám Bên cạnh đó, tôi nhận thấy việc mở rộng cách thức áp dụng hoàn toàn phù hợp đối với tất cả các khối lớp và ở các bộ môn khác.
  15. 15 - Biện pháp mong muốn được chia sẻ với các đồng nghiệp trên phạm vi toàn thành phố. 7.3. Thuyết minh về lợi ích kinh tế, xã hội của sáng kiến: Từ những kết quả đã đạt được của giải pháp, tôi thấy giải pháp này mang lại những lợi ích sau: - Giải pháp giúp học sinh chiếm lĩnh kiến thức nhanh hơn, từ đó tiết kiệm thời gian, công sức cho học sinh. - Giải pháp giúp học sinh học tập sôi nổi, tích cực từ đó hình thành nên phẩm chất độc lập, tự tin cho các em trong học tập cũng như trong cuộc sống - Chất lượng giáo dục được nâng lên. - Giúp HS giảm bớt áp lực, đồng thời phát huy được khả năng tự nghiên cứu, giúp HS độc lập trong suy nghĩ, đánh giá và và hệ thống kiến thức một cách đầy đủ. - Giúp các em vào việc học về tốt Toán 7 và nó còn làm cơ sở giúp các em học tốt môn toán ở lớp 8 và các lớp trên. Việc áp dụng giải pháp đem lại kết quả khả quan trong việc nâng cao chất lượng học sinh đại trà, thể hiện qua việc đánh giá kết quả học sinh hàng năm tại đơn vị. Giải pháp áp dụng là bước tiếp theo của chuỗi các giải pháp trong các năm học của quá trình dạy và phụ đạo học sinh. Như vậy việc áp dụng phương pháp dạy học bằng sơ đồ tư duy đã bước đầu giúp học sinh yêu thích môn toán hơn. Giúp học sinh tích cực, chủ động, sáng tạo, hứng thú trong các hoạt động học tập, rèn luyện qua đó hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực bản thân. Sau khi có kết quả kiểm tra chất lượng bộ môn thấy sự tiến bộ rõ rệt của các em tôi rất phấn khởi vì những công sức mình bỏ ra đã được các em đền đáp; các em biết cách tự tìm tòi kiến thức mới, từ đó góp phần nâng cao chất lượng môn học.
  16. 16 * Cam kết: Tôi cam kết những điều đã trình bày trên đây là đúng sự thật và không sao chép, vi phạm bản quyền. Xác nhận của cơ quan, đơn vị Tác giả sáng kiến Ngô Thị Hải Hà