Một vài phương pháp rèn kỹ năng vỗ đệm đúng cho học sinh trung học cơ sở khi học âm nhạc

docx 23 trang Kim Kim 16/03/2026 40
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Một vài phương pháp rèn kỹ năng vỗ đệm đúng cho học sinh trung học cơ sở khi học âm nhạc", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • docxmot_vai_phuong_phap_ren_ky_nang_vo_dem_dung_cho_hoc_sinh_tru.docx

Nội dung text: Một vài phương pháp rèn kỹ năng vỗ đệm đúng cho học sinh trung học cơ sở khi học âm nhạc

  1. PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TP BẮC GIANG TRƯỜNG THCS LÊ LỢI -------------\></------------ BÁO CÁO BIỆN PHÁP THAM GIA HỘI THI GIÁO VIÊN DẠY GIỎI CẤP TỈNH CHU KỲ 2020-2024 Tên biện pháp: Một vài phương pháp rèn kỹ năng vỗ đệm đúng cho học sinh trung học cơ sở khi học âm nhạc Họ và tên: Nguyễn Thị Thùy Dương Môn giảng dạy: Âm nhạc Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm âm nhạc Chức vụ: Giáo viên Đơn vị công tác: Trường THCS Lê Lợi TP. Bắc Giang, ngày 4 tháng 10 năm 2022
  2. 2 A. ĐẶT VẤN ĐỀ Chương trình âm nhạc ở trường THCS được xây dựng xuất phát từ đặc trưng của nghệ thuật Âm nhạc, phù hợp với lứa tuổi học sinh đại trà, kết hợp với những định hướng về đổi mới phương pháp và đánh giá nhằm giúp HS đạt được phẩm chất, năng lực (hay kĩ năng, kĩ xảo, thái độ) cần thiết cho việc phát triển mỗi cá nhân học sinh. Năm học 2022-2023, môn Âm nhạc đối với lớp 8 và 9 áp dụng chương trình GDPT 2006 được cấu trúc gồm ba phân môn: + Học hát. + Nhạc lý và tập đọc nhạc. + Âm nhạc thường thức. Môn Nghệ thuật nội dung Âm nhạc năm học 2022-2023 đối với lớp 6 và 7 áp dụng chương trình GDPT 2018 gồm 6 mạch nội dung: + Hát. + Đọc nhạc. + Nghe nhạc. + Thường thức âm nhạc. + Lí thuyết âm nhạc. + Nhạc cụ. Như vậy, nội dung hát và tập đọc nhạc là hai nội dung xuyên suốt chương trình âm nhạc từ lớp 6 đến lớp 9. Sau khi học xong mỗi bài hát hay mỗi bài tập đọc nhạc thì bao giờ cũng có hoạt động kết hợp như vỗ tay đệm, đánh nhịp, vận động phụ họa, trò chơi âm nhạc, các hình thức biểu diễn trước lớp Hoạt động vỗ đệm giúp các em làm quen với nhịp, phách, tiết tấu, giúp các em học vui và rèn các kĩ năng âm nhạc. Hoạt động vỗ đệm giúp học sinh không nhàm chán, tạo không khí sôi nổi vui tươi cho tiết học tránh căng thẳng, đáp ứng đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi: hiếu động, hăng hái, thích tìm tòi khám phá cái mới, dễ bị lôi cuốn vào những hoạt động có tính chất sôi nổi, hấp dẫn. Vì vậy, có thể nói vỗ đệm là hoạt động rất quan trọng trong dạy và học âm nhạc. Việc xây dựng và phát triển năng lực âm nhạc và kĩ năng thực hành âm nhạc là cả một quá trình học tập, rèn luyện. Để thực hiện được điều này, các em
  3. 3 phải được thông qua thực hành: thực hành hát, thực hành đọc nhạc, thực hành vỗ đệm. Xuất phát từ một số đặc trưng cơ bản của âm nhạc: tính truyền cảm trực tiếp, tính trừu tượng, tính thời gian; xuất phát từ nguyên tắc dạy học âm nhạc: đảm bảo tính trực quan, tính phát triển, tính hệ thống, tính giáo dục, đảm bảo học đi đôi với hành, đảm bảo phát triển tai nghe, đảm bảo phát huy tính tích cực học sinh ; xuất phát từ phương pháp dạy học môn âm nhạc luôn coi trọng luyện tập thực hành; xuất phát từ việc kiểm tra đánh giá cũng thông qua thực hành Tất cả những mục tiêu này chỉ đạt được khi học sinh được hướng dẫn và rèn luyện đúng cách. Vì vậy, tôi đã tìm tòi và nghiên cứu giải pháp “Một vài phương pháp rèn kĩ năng vỗ đệm đúng cho học sinh THCS khi học âm nhạc”, những mong giúp HS giải bài toán về tự tin khi nắm chắc kiến thức và ứng dụng lí thuyết vào thực hành thực tế. Giúp HS được thỏa sức sáng tạo với năng lực bản thân về âm nhạc và học tập. giúp môn học trở nên hấp dẫn, nhẹ nhàng mà hiệu quả hơn cũng như giúp cho các em học sinh tự tin hơn trong trình bày kĩ năng môn học, qua đó kích thích các em say mê môn học, say mê sáng tạo, tạo tâm lí cân bằng để tiếp nhận tốt các môn học khác, đáp ứng mục tiêu giáo dục con người toàn diện của đất nước ta trong giai đoạn hiện nay và sớm kéo gần khoảng cách về giáo dục với các nước khác trên thế giới trên con đường hội nhập.
  4. 4 B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ: I. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC DẠY VÀ HỌC MÔN ÂM NHẠC TẠI TRƯỜNG THCS LÊ LỢI: 1. Ưu điểm: * Bản thân: Tôi là một giáo viên được đào tạo chuyên ngành sư phạm âm nhạc và đã có trên 20 năm tuổi nghề nên cũng có ít nhiều trình độ và kinh nghiệm phục vụ trong dạy và học âm nhạc. Có lòng yêu nghề, mến trẻ, nhiệt tình trong công việc. Thường xuyên trau dồi kiến thức, tìm hiểu học hỏi đồng nghiệp những phương pháp hay, những kinh nghiệm quý báu trong chuyên môn. Luôn nắm bắt mọi thông tin về giáo dục và tiếp cận với khoa học kĩ thuật hiện đại. * Học sinh: đa số các em lứa tuổi THCS đều thích học âm nhạc, đặc biệt là học hát. Vốn tích lũy về âm nhạc đã nhiều hơn ở tiểu học. Khả năng nghe và nhận biết chuẩn xác hơn HS tiểu học. Tầm cữ giọng mở rộng hơn. Đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi phù hợp với việc vận động. * Nhà trường: có đài đĩa, có phương tiện dạy học hiện đại hỗ trợ như: máy tính, máy chiếu, TV thông minh kết nối mạng internet... Ban giám hiệu nhà trường rất quan tâm đến môn học và thường xuyên tổ chức nhiều hoạt động ngoại khoá trong đó có nhiều cuộc thi văn nghệ từ đó phát triển khả năng của học sinh khuyến khích các em tham gia hoạt động Âm nhạc. 2. Hạn chế và nguyên nhân hạn chế: * Học sinh: - Còn có học sinh có tư tưởng chưa nghiêm túc trong học tập bộ môn do coi đây là bộ môn “phụ”. Địa bàn phường Lê Lợi là địa bàn có nhiều hộ gia đình kinh tế khó khăn, hoàn cảnh sống và sinh hoạt còn nhiều phức tạp nên việc tạo điều kiện cho con em trong học tập còn nhiều khó khăn, vì vậy môn học Âm nhạc còn chưa được chú ý đúng mức dẫn đến học sinh sách vở còn thiếu, đồ dùng chưa đầy đủ, tâm lí phụ huynh không muốn con em mình tham gia vào các hoạt động ngoại
  5. 5 khoá, các câu lạc bộ văn nghệ của nhà trường do sợ mất thời gian học tập văn hóa. - Trong một lớp, khả năng nhận thức không đồng đều, sĩ số một số lớp đông so với đặc thù học môn nghệ thuật (một số lớp có học sinh hòa nhập). Đặc biệt, có em sợ học nhạc, có em không thích âm nhạc hoặc có em chỉ thích hát chứ không thích đọc nhạc hay ngược lại, có em chỉ thích biểu diễn nhưng có em lại rất nhút nhát, e ngại. Đa số các em chưa ham thích đọc nhạc như học hát. Nhiều em chưa mạnh dạn tự tin khi trình bày trước lớp. Một số em học theo cách đối phó, việc bắt đầu vào nhạc đệm chưa đồng đều nhiều khi hay bị cuốn nhịp. Tâm lí còn nôn nóng nên hay ghi nhớ vội vàng dẫn đến dễ quên. - Đa số các em chưa phân biệt được các cách vỗ đệm cơ bản cũng như một số cách vỗ đệm khác. Còn nhầm lẫn giữa vỗ theo nhịp, phách. Trong thực tế giảng dạy tôi nhận thấy hầu như các em thường không phân biệt được các cách vỗ (gõ) đệm cơ bản mà thường chỉ làm theo xu hướng bắt chước một cách thụ động. Khi được hỏi hoặc khi thực hành các em thường lúng túng và không chắc chắn về các cách vỗ đệm nhưng khi giáo viên gợi ý thì các em lại thực hiện được rất tốt. Kể cả trong các tiết thi GV dạy giỏi của thành phố Bắc Giang và của tỉnh Bắc Giang tôi đã được tham gia làm ban giám khảo thì tôi cũng nhận thấy đa số các em đều thụ động vỗ theo khi GV làm mẫu chứ không hiểu bản chất để chủ động vỗ đệm. Vỗ đệm không đúng dẫn đến năng lực cảm thụ mất đi, lâu dần đẫn đến tai nghe không chuẩn xác. - Khi hát và đọc nhạc cần rèn kĩ năng vỗ đệm thì thông thường GV sẽ làm mẫu cho HS làm theo. Với cách làm này HS sẽ thực hiện được nhưng khi không có GV làm mẫu thì HS sẽ không biết vỗ và dẫn đến sự lộn xộn, rồi trông chờ vào một vài HS khác ghi nhớ, không định hình được mình vỗ có đúng không dẫn đến không đồng đều, mất tự tin, không phát triển được tai nghe và cảm thụ âm nhạc, không ứng dụng được kiến thức nhạc lí vào thực hành, không biến được kiến thức thành của mình. Và cũng không biết sáng tạo thêm nhiều cách vỗ khác làm nghèo nàn và thui chột năng lực bản thân. Chính vì vậy tôi luôn muốn tìm biện pháp giúp các em nắm chắc được các cách vỗ đệm cơ bản để các em có thể tự tin thực hành
  6. 6 khi hát hay đọc nhạc bất kỳ bản nhạc nào và cũng thông qua đó nâng cao năng lực cảm thụ, cảm nhận tiết tấu và giai điệu trong âm nhạc. * Về cơ sở vật chất: Chưa có bộ nhạc cụ gõ đệm như thanh phách, song loan hay bộ nốt nhạc đính nam châm, bảng kẻ nhạc cũng chưa có. Các nhạc cụ tiết tấu dành cho nội dung âm nhạc 6,7 chưa nhận được nên HS chưa có để thực hành. Nắm bắt được những khó khăn trên tôi đã nghiên cứu và hướng vào giải quyết những vấn đề sau: - Trang bị chắc những kiến thức nhạc lí liên quan như nhịp, phách, ô nhịp (từ lớp 6 đầu cấp). - Ứng dụng kiến thức nhạc lí vào bản nhạc. - Ứng dụng kiến thức vào thực hành vỗ đệm hát, đọc nhạc thường xuyên, liên tục. - Tìm tòi các cách vỗ đệm khác gây hứng thú như vỗ đệm hai âm sắc, vỗ theo tiết tấu định sẵn II. NHỮNG GIẢI PHÁP THỰC HIỆN: Giải pháp 1: Trang bị những kiến thức nhạc lí về nhịp, phách, ô nhịp và ứng dụng vào bản nhạc: Bước 1: Ở phần này tôi cung cấp và trang bị cho các em kiến thức nhạc lí về các loại nhịp thông dụng trong chương trình âm nhạc THCS. Cụ thể: Lớp 6, 7: nhịp 2/4 và 3/4 và nhịp 4/4 Lớp 8: nhịp 6/8. HS được tiếp xúc với kiến thức nhạc lí bằng cách cho nghe, quan sát ví dụ rồi nhận biết bản chất sau đó phát biểu thành lời. Gắn liền với nhịp là phân biệt phách trong mỗi loại nhịp. Bước 2: Nắm chắc bản chất của nhịp và phách rồi thực hành vỗ đệm với từng loại nhịp kết hợp đếm và các bài tập về nhịp và phách để củng cố nhận biết. Nhận biết về cách vỗ đệm thứ ba: vỗ đệm tiết tấu lời ca. Bước 3: là vận dụng bài tập.
  7. 7 a. Phương pháp hướng dẫn về Nhịp, phách, nhịp 2/4: ( nhịp có 2 phách) * Nhịp: Ngay từ đầu vào lớp 6 tôi đã chú trọng đến việc rèn kĩ năng vỗ đệm cho học sinh kết hợp khi hát hoặc khi đọc nhạc. Trang bị cho các em các cách vỗ đệm cơ bản khi được học nhạc lí về nhịp và phách. Ở lớp 6 phần lí thuyết âm nhạc, khi giới thiệu về nhịp giáo viên cho học sinh quan sát ví dụ: Giáo viên đặt câu hỏi: quan sát và cho biết khuông nhạc có mấy vạch thẳng đứng? Sau khi học sinh trả lời giáo viên sẽ giới thiệu những vạch thẳng đứng trên khuông nhạc được gọi là vạch nhịp và có tác dụng phân chia bản nhạc thành những phần đều nhau và những phần đều nhau đó được gọi là ô nhịp. Học sinh quan sát tiếp ví dụ thứ 2 và trả lời xem khuông nhạc này có bao nhiêu vạch nhịp và bao nhiêu ô nhịp: Giáo viên cho học sinh nghe ví dụ thứ 2 bằng đàn phím có cả tiết điệu để học sinh phân biệt được phần mạnh và nhẹ của âm thanh. Giáo viên quy định cách đọc và vỗ ví dụ thứ 2 như sau: nốt đen đọc là đen, dấu lặng đen đọc là lặng. - Yêu cầu học sinh đọc đều đặn: đen đen đen lặng đen đen lặng đen. - Yêu cầu học sinh đọc đều đặn kết hợp vỗ tay: Đọc: đen đen / đen lặng / đen đen / lặng đen / Vỗ: x / x / x / x / Cuối cùng rút ra kết luận về nhịp và cho học sinh phát biểu, ghi vào vở khái niệm về nhịp: là những phần nhỏ có giá trị thời gian bằng nhau được lặp đi lặp lại đều đặn trong một bản nhạc, bài hát. Giữa các nhịp có một vạch đứng để phân cách gọi là vạch nhịp. * Phách: Giáo viên quy định mỗi một nốt đen hay dấu lặng đen bằng một phách và bằng một lần vỗ tay. - Yêu cầu học sinh đọc đều đặn kết hợp vỗ tay cùng với mỗi tiếng đọc như sau:
  8. 8 Đọc: đen đen / đen lặng / đen đen / lặng đen / Vỗ: x x / x x / x x / x x / Học sinh rút ra kết luận về phách: là những phần có giá trị thời gian được lặp lại đều đặn trong một bản nhạc nhưng có giá trị nhỏ hơn nhịp. Một nhịp thì gồm nhiều phách. Cho học sinh ứng dụng hát và vỗ tay theo nhịp bài hát Đời sống không già vì có chúng em sáng tác của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn học ở chủ đề 2. Cho học sinh nhận xét sau khi hát: thế nào là vỗ tay theo nhịp rồi rút ra kết luận: Tiếng vỗ tay trùng với tiếng ở bắt đầu mỗi ô nhịp nên vỗ theo nhịp là vỗ vào đầu mỗi ô nhịp (phách 1). Cho học sinh quan sát bản nhạc bài Con đường học trò của nhạc sĩ Nguyễn Văn Hiên và nêu những tiếng hát trùng với tiếng vỗ tay theo nhịp đồng thời đánh dấu x vào bên dưới bản nhạc (Đường, sau tiếng cây, giữa, sau tiếng vui .) * Giới thiệu về số chỉ nhịp và nhịp 2/4: + Số chỉ nhịp: là 2 chữ số đặt ở đầu bản nhạc để chỉ loại nhịp, số phách và độ dài của phách trong một ô nhịp. Số đặt ở trên chỉ số lượng phách trong mỗi ô nhịp. Số đặt ở dưới chỉ độ dài của phách. Độ dài của phách bằng độ dài nốt tròn chia cho chính số đó. + Nhịp 2/4: Giáo viên hỏi học sinh số chỉ trên là mấy và cho ta biết điều gì? (số 2 và cho ta biết trong một ô nhịp sẽ có 2 phách). Giáo viên hỏi học sinh số chỉ dưới là mấy và cho ta biết điều gì? (số 4 và cho ta biết mỗi một phách tương ứng với độ dài của một nốt tròn chia cho 4 và bằng nốt đen), học sinh nhắc lại một nốt tròn ngân dài bằng 2 nốt trắng và bằng 4 nốt đen đã học trong bài trường độ. Học sinh kết luận về nhịp 2/4 và ghi vở: là nhịp gồm có 2 phách, mỗi phách bằng một nốt đen. Phách thứ nhất là phách mạnh, phách thứ 2 là phách nhẹ. Học sinh quan sát ví dụ và lên bảng đánh dấu phách 1 và 2 vào dưới bản nhạc( nốt trắng bằng 2 nốt đen tương ứng 2 phách):
  9. 9 Cho học sinh đọc đều đặn và vỗ tay theo phách ví dụ này: Đọc: đen đen / trắng / đơnđơnđơnđơn / trắng / Vỗ : x x / x x / x x / x x / Rút ra kết luận về vỗ tay theo phách: tiếng vỗ tay trùng với số phách có trong một ô nhịp. Và để làm rõ tính chất mạnh nhẹ của phách giáo viên quy định phách 1 vỗ cả bàn tay, phách 2 vỗ nửa bàn tay hoặc phách 1 vỗ 2 tay vào nhau phách 2 vỗ nhẹ xuống bàn.. tùy theo mỗi giáo viên. Giáo viên cho học sinh đọc kết hợp vỗ phách mạnh nhẹ ví dụ trên. b. Hướng dẫn về Nhịp 3/4: ( nhịp có 3 phách) Ở tiết 21 âm nhạc 6 học sinh được làm quen với nhịp 3/4. Cũng như nhịp 2/4 học sinh sẽ tìm hiểu khái niệm: là nhịp có 3 phách, mỗi phách bằng một nốt đen. Phách thứ nhất là phách mạnh, hai phách sau là phách nhẹ. Học sinh quan sát ví dụ và lên bảng đánh dấu phách 1,2,3 vào dưới bản nhạc (lưu ý nốt trắng bằng 2 nốt đen tương đương 2 phách): 1 2 3 1 2 3 1 2 3 1 2 3 Luyện đọc phách đều đặn kết hợp vỗ đệm theo phách mạnh, nhẹ: Đọc: Một hai ba / Một hai ba / Một hai ba / Một hai ba / Vỗ : x x x / x x x / x x x / x x x / Luyện đọc tiết tấu kết hợp giáo viên chỉ bảng (nốt trắng đọc ngân giọng bằng độ dài 2 phách, dấu lặng không đọc): Đọc: đen đen đen / trắng đen / trắng đen / trắng lặng/ Luyện đọc tiết tấu kết hợp vỗ đệm theo nhịp (nốt trắng đọc ngân giọng bằng độ dài 2 phách, dấu lặng không đọc): Đọc: đen đen đen / trắng đen / trắng đen / trắng lặng / Vỗ : x / x / x / x /
  10. 10 Luyện đọc tiết tấu kết hợp vỗ phách mạnh nhẹ: Đọc: đen đen đen / trắng đen / trắng đen / trắng lặng / Vỗ : x x x / x x x / x x x / x x x / Luyện đọc tiết tấu kết hợp vỗ theo tiết tấu (dấu lặng không đọc cũng không vỗ): Đọc: đen đen đen / trắng đen / trắng đen / trắng lặng / Vỗ : x x x / x x / x x / x / Khi vỗ phách 1 thì vỗ 2 bàn tay còn phách 2 và 3 thì vỗ nửa bàn tay hoạc vỗ theo cách vỗ phách 1 thì cả hai bàn tay còn phách 2 và 3 lần lượt đưa nhẹ tay trái rồi phải vỗ xuống bàn. c. Hướng dẫn về Nhịp 4/4: ( nhịp có 4 phách) Ở chủ đề 3 Nhớ ơn thày cô âm nhạc 6 (mới) và tiết 5 âm nhạc 7 (cũ) học sinh được làm quen với nhịp 4/4. Khái niệm: Nhịp 4/4 còn có kí hiệu là nhịp C, mỗi nhịp có 4 phách, mỗi phách bằng một nốt đen. Phách thứ nhất là phách mạnh, phách thứ hai là phách nhẹ, phách thứ ba là phách mạnh vừa, phách thứ tư là phách nhẹ. Học sinh quan sát ví dụ và lên bảng đánh dấu phách vào dưới bản nhạc: 2 3 4 1 2 3 4 1 2 3 4 Giáo viên cho học sinh nhận xét ô nhịp đầu: là nhịp lấy đà vì thiếu phách. Học sinh đọc tiết tấu đều đặn: Đen đen đen / đen đen đen đen / đen đen đen đen / Học sinh đọc tiết tấu đều đặn kết hợp vỗ đệm nhịp : Đọc: Đen đen đen / đen đen đen đen / đen đen đen đen / Vỗ : / x / x / Học sinh đọc phách đều đặn: Hai ba bốn/ một hai ba bốn / một hai ba bốn / Học sinh đọc phách đều đặn kết hợp vỗ: Đọc: Hai ba bốn/ một hai ba bốn / một hai ba bốn /
  11. 11 ( 2 3 4 / 1 2 3 4 / 1 2 3 4 / ) Vỗ : x x x / x x x x / x x x x / Học sinh đọc tiết tấu kết hợp vỗ đệm phách đều đặn: Đọc: Đen đen đen / đen đen đen đen / đen đen đen đen / Vỗ : x x x / x x x x / x x x x / Họcsinh đọc tiết tấu kết hợp vỗ đệm theo tiết tấu: Đọc: Đen đen đen / đen đen đen đen / đen đen đen đen / Vỗ : x x x / x x x x / x x x x / d. Hướng dẫn về Nhịp 6/8: (nhịp có 6 phách) Ở bài 5 âm nhạc 8 học sinh được học nhịp 6/8. Khái niệm: là nhịp có 6 phách, mỗi phách bằng một nốt móc đơn. Mỗi nhịp có 2 trọng âm. Trọng âm thứ nhất được nhấn vào phách 1, trọng âm thứ hai được nhấn vào phách 4. Học sinh quan sát bản trích nhạc nhịp 6/8, lên bảng đánh dấu số phách ( nốt đen bằng 2 nốt đơn tương ứng 2 phách, nốt đơn chấm dôi bằng 3 nốt đơn bằng 3 phách): 1 2 3 4 5 6 1 2 3 4 5 6 1 2 3 4 5 6 123 456 Học sinh đếm số phách đều đặn kết hợp vỗ phách: Đếm: 1 2 3 4 5 6/ 1 2 3 4 5 6/ 1 2 3 4 5 6/ 1 2 3 4 5 6/ Vỗ : x x x x x x/ x x x x x x/ x x x x x x/ x x x x x x/ Học sinh đọc tiết tấu (nốt đen ngân giọng bằng độ dài 2 phách, đen chấm dôi bằng độ dài 3 phách) kết hợp với giáo viên chỉ bảng hình nốt: Đen đơn đen đơn/ đen đơn đơn đơn đơn/ đen đơn đơn đơn đơn/ đen Học sinh đọc tiết tấu kết hợp vỗ nhịp 6/8: Đọc: Đen đơn đen đơn/đen đơn đơn đơn đơn/ đen đơn đơn đơn đơn/ đen Vỗ : x / x / x / x Học sinh đọc tiết tấu kết hợp vỗ phách đều đặn:
  12. 12 Đọc: Đen đơn đen đơn/đen đơn đơn đơn đơn/đen đơn đơn đơn đơn/ đen Vỗ : x x x x x x /x x x x x x / x x x x x x / x x x x x x Học sinh đọc tiết tấu kết hợp vỗ tay theo tiết tấu: Đọc: Đen đơn đen đơn/đen đơn đơn đơn đơn/đen đơn đơn đơn đơn/ đen Vỗ : x x x x / x x x x x / x x x x x / x * Kết luận của giải pháp 1: Sau khi cho HS học lí thuyết thì luôn rút ra kết luận để cho học sinh ghi nhớ: - Vỗ đệm theo nhịp là vỗ ứng vào đầu mỗi ô nhịp trên bản nhạc (phách 1). - Vỗ đệm theo phách là vỗ ứng vào các phách mạnh và nhẹ có trong mỗi ô nhịp. - Vỗ đệm theo tiết tấu lời ca là đọc (hát) tiếng nào vỗ tiếng đó. Giải pháp 2: Ứng dụng thực hành vỗ đệm các dạng nhịp vào trong các bài hát và bài tập đọc nhạc: Sau khi HS nắm chắc lí thuyết các loại nhịp và các cách vỗ đệm từng loại nhịp qua các bài tập thì cho HS ứng dụng vào bài đọc nhạc và bài hát trong chương trình. Như vậy khi nắm chắc bản chất các cách vỗ đệm cơ bản thì đối với bất kỳ bản nhạc nào trong SGK âm nhạc THCS thì HS cũng sẽ biết cách giải quyết và ứng dụng. Việc nắm chắc giúp HS tự tin, mạnh dạn, giúp các em hát đúng nhạc kể cả khi không có nhạc đệm, giúp HS biết cảm nhận và lắng nghe khi trình bày tập thể, nâng cao năng lực và hiểu biết về âm nhạc. Theo sách hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kĩ năng môn âm nhạc trung học cơ sở của bộ giáo dục và đào tạo thì kĩ năng mà học sinh phải đạt được sau khi học hát và tập đọc nhạc là biết vỗ đệm theo các cách như: đệm theo nhịp, theo phách hoặc có thể theo tiết tấu lời ca. Tuy nhiên cách thứ ba này thường ít được sử dụng khi hát vì dễ làm mất đi tính chất của bài hát, trừ khi cho học sinh nghe để nhận biết câu hát hoặc những bài có điểm đặc biệt như là có tiết tấu giống nhau giữa các câu nhưng khi luyện tập trước khi tập đọc nhạc thì lại rất hiệu quả vì vừa giúp các em nhận biết được các tiết tấu mời phong phú vừa làm cho các em phát
  13. 13 hiện ra thủ pháp sáng tác của các nhạc sĩ gây nên sự hứng thú khi được phát hiện và tìm tòi. Nó cũng giúp cho các em phát triển tai nghe và không khí giờ học cũng vui vẻ, sôi nổi hơn khi các em được hoạt động. Trước khi vỗ đệm GV nên hỏi để học sinh trả lời về các cách vỗ đệm một bài hát hay một bài nhạc: thế nào là vỗ theo nhịp hoặc thế nào là vỗ theo phách? Sau đó giáo viên cho các em đánh dấu vào bản nhạc những chỗ vỗ đệm theo nhịp (thường là đầu mỗi ô nhịp hoặc là phách 1), những chỗ vỗ đệm theo phách rồi từ đó cho các em định hình những chỗ vừa đánh dấu (hoặc sẽ phải nêu những tiếng, lời ca trùng với tiếng vỗ đã được các em đánh dấu để giáo viên xem các em có nắm chắc được các cách vỗ không ), cuối cùng là vỗ đệm thực hành. a. Ví dụ: Ứng dụng thực hành vỗ đệm nhịp 2/4 bài Khúc hát chim sơn ca
  14. 14 Hát: Tiếng sơn ca ngân nga đâu đây, giữa không gian bao la Vỗ nhịp: x / x / x / x Vỗ phách: x x / x x / x x / x Vỗ tiết tấu: x x x x / x x x / x x x b. Ví dụ: Ứng dụng về thực hành vỗ đệm nhịp 3/4 với bài Ngày đầu tiên đi học: - Vỗ theo nhịp: trước khi vỗ đệm cho học sinh nhắc lại về nhịp 3/4, cách vỗ tay theo nhịp và cho học sinh đánh dấu vào bản nhạc những chỗ vỗ tay theo nhịp và ứng với tiếng nào trong bài (nhắc học sinh ô nhịp đầu không vỗ ngay vì thiếu phách): đầu, học, dắt, trường, vừa, khóc, dỗ GV quan sát xem HS đã đánh dấu đúng chưa Hát: Ngày đầu tiên đi học, mẹ dắt em đến trường. Em vừa đi vừa khóc Vỗ : / x / x / x / x / x / x
  15. 15 - Vỗ theo phách: nêu lại thế nào là vỗ tay theo phách, đánh dấu phách 1,2,3 vào bản nhạc ( ô nhịp đầu chỉ có phách 3) và sau đó mới vỗ như sau: Hát: Ngày đầu tiên đi học, mẹ dắt em đến trường. Em vừa đi vừa khóc Phách: 3 / 1 2 3/ 12 3 / 1 2 3/ 1 2 3 / 1 2 3 / 1 2 Vỗ : x x x x x x x / x x x / x x x / x x x / x x - Khi đọc nhạc bài này thì có thể cho vỗ theo tiết tấu vì đoạn đầu (đoạn a) của bài có tiết tấu giống nhau. Đọc: đen đen đen đen trắng Vỗ : x x x x x c. Ví dụ: Ứng dụng về thực hành vỗ đệm nhịp C với bài Ánh trăng Hát: Nhìn bầu trời trăng sáng soi cùng chúng em vui đùa Vỗ nhịp: x x x x Vỗ phách: x x x x xx xx x x x x x Vỗ tiết tấu: x x x x x x x x x x x d. Ví dụ: Ứng dụng về thực hành vỗ đệm với bài nhịp 6/8 “Làng tôi” TĐN số 5 âm nhạc 8:
  16. 16 Hát: Làng tôi xanh bóng tre từng tiếng chuông ban chiều . Vỗ nhịp: x x x Vỗ phách: xx x xx x xx x x x x x Vỗ tiết tấu: x x x x x x x x x x * Kết luận của giải pháp 2: Như vậy khi nắm chắc bản chất các cách vỗ đệm cơ bản thì đối với bất kỳ bản nhạc nào trong SGK âm nhạc THCS thì HS cũng sẽ biết cách giải quyết và ứng dụng. Việc nắm chắc giúp HS tự tin, mạnh dạn, giúp các em hát đúng nhạc kể cả khi không có nhạc đệm, giúp HS biết cảm nhận và lắng nghe khi trình bày tập thể, nâng cao năng lực và hiểu biết về âm nhạc. Và sau đây là các bước cần làm khi tập vỗ đệm: - Thứ nhất các em sẽ định hình xem bản nhạc đó được viết ở nhịp nào đã học. - Thứ hai các em tiến hành đánh dấu các cách vỗ tay đã được học như nhịp, phách, tiết tấu trên bản nhạc. - Thứ ba sau khi đánh dấu các em sẽ tập thực hành trên bản nhạc trước tiên bằng cách đọc (hát) chậm câu đầu và kết hợp vỗ đệm. - Thứ tư sau khi thực hiện tốt câu đầu các em sẽ thực hiện cả bản nhạc tốc độ chậm. - Thứ năm các em thực hiện cả bài với tốc độ thông thường cần có của bản nhạc.
  17. 17 Đối với mỗi bài khác nhau khi thực hành vỗ đệm thì GV là người lựa chọn cách vỗ đệm phù hợp với bài nhất để gợi ý cho HS vì không phải bài nào cũng áp dụng máy móc cả 3 cách vỗ đệm cơ bản. Có mỗi bài lại phù hợp cách vỗ đệm khác nhau. Bài sôi nổi, tinh nghịch có thể vỗ đệm tiết tấu hoặc bài sâu lắng có thể vỗ đệm theo nhịp..v v.. Tuy nhiên cũng có bài có thể kết hợp cả ba cách vỗ và để tạo sự sôi nổi, không khí thi đua GV có thể làm trọng tài cho HS thi vỗ theo các dãy hoặc kết hợp 3 cách vỗ cùng lúc để xem các em có phân biệt được nhiệm vụ của mình và thực hiện tốt nhiệm vụ dãy mình được không. Thực hiện được sẽ giúp các em vừa nắm chắc được cách vỗ cơ bản lại vừa giúp các em nâng cao hơn trình độ và năng lực cảm thụ âm nhạc. và đó cũng chính là nhiệm vụ nâng cao trong giải pháp thứ ba sau đây. Giải pháp 3: Nâng cao ứng dụng bằng một vài cách vỗ đệm khác: Đây là giải pháp nâng cao năng lực thực hành cho HS đồng thời phát huy tố chất âm nhạc cho các em về mặt tai nghe và sáng tạo. Giới thiệu một vài cách vỗ đệm có thể ứng dụng như vỗ đệm hai âm sắc, vỗ đệm theo tiết tấu định sẵn Đối với mỗi bài khác nhau khi thực hành vỗ đệm thì GV là người lựa chọn cách vỗ đệm phù hợp với bài nhất để gợi ý cho HS vì không phải bài nào cũng áp dụng máy móc cả 3 cách vỗ đệm cơ bản. Có mỗi bài lại phù hợp cách vỗ đệm khác nhau. Bài sôi nổi, tinh nghịch có thể vỗ đệm tiết tấu hoặc bài sâu lắng có thể vỗ đệm theo nhịp..v v.. Tuy nhiên cũng có bài có thể kết hợp cả ba cách vỗ và để tạo sự sôi nổi, không khí thi đua GV có thể làm trọng tài cho HS thi vỗ theo các dãy hoặc kết hợp 3 cách vỗ cùng lúc để xem các em có phân biệt được nhiệm vụ của mình và thực hiện tốt nhiệm vụ dãy mình được không. Thực hiện được sẽ giúp các em vừa nắm chắc được cách vỗ cơ bản lại vừa giúp các em nâng cao hơn trình độ và năng lực cảm thụ âm nhạc. và đó cũng chính là nhiệm vụ nâng cao trong giải pháp thứ ba này.
  18. 18 a. Vỗ đệm hai âm sắc: Ứng dụng với bài Khúc ca bốn mùa nhịp 3/4: Vỗ đệm hai âm sắc như sau: - Một dãy vỗ đệm theo nhịp (tức là vỗ vào phách 1). - Một dãy vỗ hai phách còn lại (tức là phách 2 và 3). Hoặc là : - Một dãy vỗ đệm theo nhịp (tức là vỗ vào phách 1). - Một dãy vỗ đệm theo tiết tấu. Hoặc là: 2 học sinh ngồi gần nhau thì vỗ phách 1 bằng 2 tay của mình, phách 2 và 3 nhẹ nhàng chạm đổi lần lượt tay trái chéo sang tay phải của bạn và ngược lại. Cách vỗ đệm này còn được ứng dụng cho các bài nhạc nhịp 2/4, 4/4, 3/8 b. Vỗ đệm theo tiết tấu định sẵn: bài Nổi trống lên các bạn ơi của nhạc sĩ Phạm Tuyên trong chương trình âm nhạc 8, nhịp 2/4:
  19. 19 * Cách vỗ cơ bản: Hát: Xưa mẹ Âu/ Cơ sinh được trăm/ con. Năm mươi xuống /biển . Vỗ nhịp: / x / x / x Vỗ phách: x / x x / x x / x Vỗ tiết tấu: x x x / x x x x / x x x x / x * Cách vỗ theo hình tiết tấu định sẵn: với bài này có thể sáng tạo cho học sinh vỗ đệm theo hình tiết tấu định sẵn để mô phỏng tiếng trống, tạo sự mới lạ, hấp dẫn, kích thích các em. Cách vỗ như sau: Tiết tấu định sẵn đoạn a: 2 4 Hát: Xưa mẹ Âu/ Cơ sinh được trăm / con năm mươi xuống / biển Vỗ: / x x / x x / x x
  20. 20 Tiết tấu định sẵn đoạn b: 2 4 H:Nổi trống/lên / Như trống đồng năm/ xưa / Vỗ: x x x x / x / x x x x / x Phần nhạc dạo và đoạn coda của bài có thể cho học sinh hát kết hợp vỗ đệm theo nhịp hoặc theo tiết tấu của bài.Cách vỗ đệm theo hình tiết tấu định sẵn này cũng có thể áp dụng cho rất nhiều bài hát và tập đọc khác trong chương trình âm nhạc THCS, tuy nhiên mỗi bài lại phù hợp với những tiết tấu khác nhau do người giáo viên nghiên cứu sáng tạo hoặc cũng có thể do chính các em nghĩ ra. Việc rèn luyện thường xuyên sẽ làm cho các em thấy thích thú và thêm yêu môn học. *Kết luận của giải pháp 3: Không phải với bài nào cũng có thể nâng cao các cách vỗ đệm nhưng nếu thực hiện tốt thì sẽ giúp HS có trí tưởng tượng và năng lực âm nhạc tốt, thậm chí các em có thể sáng tạo được những tiết tấu hay và phong phú cho mỗi bài nhạc bằng cách giao bài về nhà để thực hành, bạn nào tốt có thể khích lệ và động viên thực hiện trước lớp và biểu diễn. Việc này vừa giúp HS được thỏa sức sáng tạo lại giúp HS thêm yêu thích môn học, làm tiền đề cho các sáng tác của chính bản thân các em.