Những kinh nghiệm tạo hứng thú học môn GDCD cho học sinh trường THCS Lê Lợi

doc 26 trang Kim Kim 16/03/2026 50
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Những kinh nghiệm tạo hứng thú học môn GDCD cho học sinh trường THCS Lê Lợi", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • docnhung_kinh_nghiem_tao_hung_thu_hoc_mon_gdcd_cho_hoc_sinh_tru.doc

Nội dung text: Những kinh nghiệm tạo hứng thú học môn GDCD cho học sinh trường THCS Lê Lợi

  1. PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ BẮC GIANG TRƯỜNG THCS LÊ LỢI BÁO CÁO BIỆN PHÁP THAM GIA HỘI THI GIÁO VIÊN DẠY GIỎI CẤP TỈNH CHU KỲ 2020-2024 Tên biện pháp: “Những kinh nghiệm tạo hứng thú học môn GDCD cho học sinh trường THCS Lê Lợi” Họ và tên : Hà Thị Vân Anh Môn giảng dạy : GDCD Trình độ chuyên môn: Đại học Chức vụ : Tổ phó chuyên môn Đơn vị công tác : Trường THCS Lê Lợi TP Bắc Giang, ngày 01 tháng 10 năm 2022
  2. 2 PHẦN A: ĐẶT VẤN ĐỀ “Nếu trong lớp có một học sinh ngủ gật, thì lỗi đó hoàn toàn thuộc về giáo viên. Người giáo viên đó đã thua trong việc cạnh tranh sự chú ý với học sinh.” Đây là câu nói của giáo sư Peck Cho- Chuyên gia giáo dục Hàn Quốc, ông đã chia sẻ quan điểm trên trong chương trình “Thầy cô chúng ta đã thay đổi” của VTV7. Điều này khẳng định trong một giờ học, một người giáo viên giảng dạy rất nhiều không nhận được sự chú ý của học sinh có nghĩa là họ đã thua cuộc. Vậy đòi hỏi giáo viên phải có biện pháp để lôi kéo sự chú ý của học sinh, nhằm khơi dậy niềm đam mê, hứng thú trong học tập có như vậy mới đạt được kết quả cao nhất trong quá trình học tập của mình. Trước hết từ thực tế hiện nay ở các nhà trường việc giảng dạy và học tập môn giáo dục công dân chưa thực sự được coi trọng. Tư tưởng coi môn Giáo dục công dân là môn “ phụ ” nên không đầu tư thời gian để nghiên cứu giảng dạy, chậm đổi mới về phương pháp giảng dạy, chưa phát huy tính tích cực, tự giác, sáng tạo của học sinh .Các tiết học giáo dục công dân còn mang nặng tính “giáo huấn”, khô khan và thường sử dụng phương pháp diễn giải đọc chép là chính. Trước đây Trong các giờ học giáo viên thường là người tổ chức, là trung tâm hướng dẫn các hoạt động của học sinh nên chủ yếu người giáo viên sử dụng các phương pháp như: Thuyết trình, đàm thoại,vấn đáp, nêu gương, Thảo luận nhóm, đóng vai xử lý tình huống .. các số liệu, tư liệu sử dụng chủ yếu theo sách giáo khoa. Vận dụng các yếu tố trực quan để kích thích người học chưa thật sự sinh động. Học sinh lĩnh hội kiến thức còn nhàm chán. Học sinh hoàn toàn không được trải nghiệm thực tế để rèn các kĩ năng kĩ năng sống cần thiết cho bản thân: Như kĩ năng giao tiếp ứng xử, kĩ năng trình bày ý tưởng, kĩ năng hợp tác và làm việc nhóm, kĩ năng xử lí ứng phó và phòng ngừa với những tình huống nguy hiểm. Các giải pháp cũ đã mang lại những nhược điểm và hạn chế như: - Nhiều học sinh học tập một cách thụ động, chỉ đơn thuần nhớ kiến thức một cách máy móc chưa rèn luyện kỹ năng tư duy.
  3. 3 - Học sinh chỉ học bài nào biết bài đó, kết quả học sinh học thuộc bài nhưng chưa hiểu sâu sắc - Còn nặng về lí thuyết, kĩ năng vận dụng vào cuộc sống chưa cao. Khi gặp các tình huống thực tế cuộc sống còn loay hoay chưa có các ứng phó, các kĩ năng sống còn yếu. Chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng dạy học hiện nay. - Trên thực tế khi học sinh vẫn thường đối mặt với các trường hợp: + Không tự tin, rụt rè e ngại khi gặp người lạ hay đứng trước đám đông. + Các em không có tinh thần làm việc nhóm, vẫn thường có hiện tượng lười suy nghĩ, lười làm việc trông chờ, ỷ lại vào một số bạn tích cực ở trong nhóm. + Các kĩ năng ứng phó với tình huống nguy hiểm của các em còn thấp: Kĩ năng thoát hiểm, kĩ năng sơ cứu vết thương, kĩ năng xử lí tình huống. Vì vậy khi bản thân rơi vào các tình huống trên các con rất luống cuống. Đây cũng chính là mặt hạn chế khi dạy nặng về lí thuyết mà chưa chú ý đến rèn kĩ năng cho các em. Với lí do trình bày trên tôi quyết định chọn nghiên cứu đề tài: “Những kinh nghiệm tạo hứng thú học môn GDCD cho học sinh trường THCS Lê Lợi”
  4. 4 PHẦN B: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. Thực trạng công tác dạy và học môn GDCD ở trường THCS Lê Lợi 1. Ưu điểm 1.1. Nhà trường Trường THCS Lê Lợi là trường nằm trong khu vực nội thị của thành phố Bắc Giang, trường được công nhân là trường chuẩn quốc gia mức độ 2, kiểm định chất lượng mức độ 3 vào tháng 12 năm 2020. Trường có 3 khu với tổng số 12 lớp, huy động được 453 học sinh. Tổng số cán bộ giáo viên nhân viên toàn trường là 28 đồng chí. Cán bộ quản lí trẻ, năng động; giáo viên đoàn kết, nhiệt tình trong công việc. Cơ sở vật chất khang trang, phòng học rộng rãi, các thiết bị phục vụ cho lớp học thông minh, hiện đại được chú trọng đầu tư đảm bảo phục vụ đầy đủ cho công tác giảng dạy. Trong những năm gần đây bộ môn GDCD được Nhà nước, xã hội quan tâm, được chọn là một trong những môn thi tốt nghiệp THPT. Đối với tỉnh Bắc Giang môn GDCD là một trong những môn thi vào lớp 10 riêng năm 2020-2021 môn GDCD được chọn làm môn thứ 4 thi vào lớp 10 năm đó. Bởi vậy vị thế của môn GDCD ở trường THCS được nâng cao. Trường THCS Lê Lợi luôn chú trọng môn GDCD phân công đúng giáo viên có chuyên ngành vào giảng dạy môn GDCD, tạo điều kiện giáo viên GDCD tham gia tập huấn, dự giờ để nâng cao chuyên môn, tay nghề. 1.2. Giáo viên Giáo viên giảng dạy môn GDCD được đào tạo đúng chuyên ngành, đạt trình độ chuẩn nghề nghiệp. Giáo viên được phân công đúng chuyên môn giảng dạy. Được tham gia các khóa bồi dưỡng thường xuyên, các lớp tập huấn để nâng cao trình độ chuyên môn. GV có tâm huyết với nghề, luôn yêu nghề , luôn trau dồi học hỏi, linh hoạt sáng tạo trong phương pháp dạy học được được học sinh đón nhận, ủng hộ được phụ huynh, học sinh và đồng nghiệp tin yêu.
  5. 5 Giáo viên giảng dạy GDCD có kinh nghiệm, nhiệt tình trong công tác giảng dạy, đã có nhiều thành tích trong công tác giáo dục mũi nhọn, giáo dục đại trà, ôn thi vào lớp 10. Được nhận giấy khen của chủ tịch UBND thành phố đã có thành tích trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, được nhận bằng khen của chủ tịch UBND tỉnh trong phong trào thi đua thực hiện nhiệm vụ năm học, được công nhận là giáo viên dạy giỏi cấp thành phố nhiều năm liền 1.3. Phụ huynh Đa số phụ huynh quan tâm học tập của các con và ủng hộ phong trào của trường, lớp. 1.4. Học sinh Hiện nay trường có 351 học sinh đa số các em đều ngoan ngoãn lễ phép có ý thức học tập. 2. Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế 2.1. Giáo viên. Giáo viên phụ trách giảng dạy GDCD ngoài nhiệm vụ giảng dạy còn phải kiêm nhiệm một số nhiệm vụ khác như: Chủ nhiệm, phụ trách công tác đánh giá ngoài, tổ phó chuyên môn. Cho nên ảnh hưởng đến quá trình nghiên cứu tài liệu chuyên môn, các phương pháp giáo dục áp dụng trong quá trình giảng dạy. Hai lớp 8B, 8C do giáo viên không chuyên giáo dục công dân đảm nhận công tác giảng dạy. Mặc dù giáo viên phụ trách lớp này đã có sự nghiên cứu, chuẩn bị tài liệu giáo án kĩ càng, đầy đủ nhưng do không phải là môn chuyên nên vẫn sẽ có những hạn chế đối với bộ môn này của hai lớp trên.. 2.4. Học sinh Học sinh chưa chú trọng học môn giáo dục công dân, do tư tưởng coi môn GDCD là môn phụ vẫn còn diễn ra phổ biến. Học sinh học chỉ để lấy điểm chứ chưa nhận thức đúng tầm quan trọng của môn học. Trong quá trình giảng dạy tôi nhận thấy học sinh chỉ chú trọng đến các môn Toán, Văn, Ngoại ngữ, Lí, Hóa....Còn môn GDCD là phải học theo quy định của chương trình vì vậy mà không hứng thú đối với môn học. Cũng chính vì tư tưởng này mà các đội tuyển
  6. 6 học sinh giỏi môn GDCD học sinh tham gia rất ít, việc lựa chọn học sinh tham gia vào đội tuyển học sinh giỏi rất khó khăn. Kết quả khảo sát đối với học sinh về sự hứng thú, tích cực đối với môn học GDCD, và khảo sát các kĩ năng sống cho học sinh kết quả còn thấp cụ thể như sau: Bảng 1: Bảng khảo sát khả năng hứng thú, tích cực tham gia các hoạt động giáo dục của học sinh trước thực nghiệm Mức độ hứng thú, tích cực của học sinh đối với hoạt động giáo dục môn GDCD Tổng Rất Bình số HS Hứng thú Thờ ơ Nội dung khảo hứng thú thường Tỉ Tỉ Tỉ Tỉ sát Số Số Số Số lệ lệ lệ lệ trẻ HS HS HS % % % % Khả năng hứng thú, tích cực tham 453 50 11,1 140 30.8 155 34.2 108 23.9 gia của học sinh Khả năng tập 453 trung chú ý cuả 35 7.7 105 23.2 175 38.6 138 30.5 học sinh Bảng 2: Bảng khảo sát kĩ năng sống, kĩ năng thoát hiểm, kĩ năng sinh tồn của học sinh trước thực nghiệm Mức độ thực hiện các kĩ năng của học sinh Tổng số Tốt khá Đạt Chưa đạt lượng HS Tỉ lệ Tỉ lệ Tỉ lệ HS khảo sát Số trẻ Số HS Số HS Số HS % % % % 453 50 11.1 139 30.7 157 34.6 107 23.6 Qua bảng khảo sát trên, tôi thấy các mặt tích cực của học sinh còn khá thấp,học sinh chưa hứng thú, tích cực tham gia các hoạt động học tập môn GDCD. Các kĩ năng sống, kĩ năng ứng phó với tình huống nguy hiểm còn thấp,
  7. 7 học sinh chưa linh hoạt, chưa nhanh nhẹn. Từ kết quả trên tôi tìm ra các nguyên nhân sau: - Do ảnh hưởng của các phương pháp dạy học cũ chủ yếu là lí thuyết, đọc chép chưa lấy người học làm trung tâm, học sinh chưa phát huy được tính tích cực và năng lực của mình. Học sinh không được trải nghiệm rèn luyện nhiều các kĩ năng sống ,kĩ năng giao tiếp, kĩ năng ứng phó với tình huống nguy hiểm, kĩ năng sinh tồn. II. Biện pháp tạo hứng thú học môn GDCD cho học sinh trường THCS Lê Lợi 1. Biện pháp 1: Nâng cao vai trò, vị trí và chất lượng giảng dạy bộ môn GDCD ở trường THCS. Môn GDCD có vai trò, vị trí rất quan trọng trong giáo dục nhân cách học sinh, đặc biệt trong việc xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân cho học sinh THCS, vì thông qua các bài học người giáo viên sẽ trang bị, hình thành cho học sinh những phẩm chất, những chuẩn mực, hành vi đạo đức, pháp luật cần thiết trong cuộc nay của trường môn GDCD chưa được xem trọng, chưa có vị trí vai trò xứng đáng cần phải có trong nhà trường. Việc đưa ra những biện pháp để nâng cao vai trò, vị trí và chất lượng giảng dạy môn GDCD ở trường THCS là một việc làm có ý nghĩa để tạo hứng thú học tập bộ môn cho học sinh. Trước hết làm cho cha mẹ học sinh, cán bộ giáo viên của trường nhận thức một cách đầy đủ về tầm quan trọng của môn GDCD, không được coi đó là môn phụ Giáo viên là lực lượng quyết định tới việc nâng cao chất lượng giáo dục và tạo hứng thú cho học sinh, do đó giáo viên nhất là giáo viên dạy GDCD phải được đào tạo chính quy đúng chuyên ngành giảng dạy, phải thường xuyên được bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, phải có nhận thức đúng đắn về vai trò, vị trí của môn GDCD, phải xác định được trách nhiệm của bản thân, chú trọng đầu tư cho giảng dạy. Cán bộ quản lí, giáo viên dạy môn GDCD cần quán triệt mục tiêu môn học trong quá trình dạy học. Phải nắm rõ cái đích cuối cùng cần đạt được trong
  8. 8 dạy học GDCD là hành động phù hợp với các các chuẩn mực đạo đức, pháp luật, yêu thích và hứng thú học tập bộ môn. Nếu học sinh không có chuyển biến trong hành động thì việc dạy học không đạt hiệu quả. Do đó để nâng cao vai trò vị trí, chất lượng dạy học và sự hứng thú yêu thích môn GDCD, thì cán bộ quản lí và giáo viên dạy GDCD cần phải nghiên cứu quán triệt đầy đủ tinh thần của chương trình, thường xuyên học tập và nghiên cứu để nâng cao kiến thức chuyên môn. 2. Giải pháp thứ hai: Đổi mới phương pháp dạy học Đổi mới phương pháp dạy học môn GDCD theo hướng phát huy tính tích cực và tương tác là một trong những biện pháp quan trọng để nâng cao vai trò, vị trí, chất lượng dạy và tạo hứng thú học môn GDCD ở trường THCS. Từ những sự đổi mới của chương trình SGK thì việc giảng dạy môn GDCD ở nhà trường đòi hỏi phải thực sự đổi mới về phương pháp, quá trình dạy học phải là quá trình tổ chức cho học sinh hoạt động. Với sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh tự khám phá và chiếm lĩnh nội dung bài học, tránh lối dạy thiên về lý thuyết trừu tượng, khô khan áp đặt. Căn cứ vào đặc điểm của học sinh và điều kiện của trường học tôi thường áp dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học hiện đại để phát huy năng lực học sinh, hình thành cho các em những phẩm chất và các kĩ năng cần có trong mỗi bài học. Căn cứ vào từng nội dung của những bài học khác nhau tôi áp dụng các phương pháp, kĩ thuật khác nhau cho phù hợp với nội dụng của từng bài. Trong đề tài này tôi trình bày các phương pháp mà tôi vẫn thường sử dụng trong giờ dạy của mình. 2.1. Kĩ thuật tư duy đặt câu hỏi 5W1H 5W1H là cụm từ viết tắt chữ cái đầu của 6 từ dùng để hỏi, trong số đó 5 từ bắt đầu bằng chữ W, 1 từ bắt đầu bằng chữ H: What (cái gì?), Where (ở đâu?), When (khi nào?), Why (tại sao), How (như thế nào?), Who (ai?). Có thể nói kĩ thuật tư duy đặt câu hỏi 5W1H là một dạng sơ dồ tư duy đặc biệt có khả năng ứng dụng cao đối với môn học GDCD.
  9. 9 Việc áp dụng kĩ thuật đặt câu hỏi 5W1H giúp học sinh ghi nhớ tối ưu kiến thức, phát huy được tính tích cực của các em, khi các em được làm chủ bài học các em sẽ có hứng thú, đam mê đối với bài học của mình. Giáo viên có thể áp dụng kĩ thuật này vào kiểm tra bài cũ, mở đầu (khởi động), hình thành kiến thức, luyện tập và vận dụng. Một số gợi ý của từng loại: WHAT- cái gì? có thể có những câu hỏi sau (Cái đó là cái gì?, bài học trình bày nội dung gì? Các gia đình, dòng học Việt Nam có truyền thống tốt đẹp gì?) WHERE- Ở đâu? những câu hỏi được áp dụng( Nó ở đâu? vấn đề đó sảy ra ở đâu? Nội dung này ở phần nào? thuộc lĩnh vực nào?Lũ ống, lũ quét sảy ra ở đâu?...) WHY- Tại sao? (tại sao phải có lòng yêu thương con người?, tại sao phải siêng năng kiên trì? tại sao phải làm như vậy?....) When- Khi nào?(Khi nào ta bắt tay vào làm?, học sinh rèn luyện tính tự lập từ khi nào?, Khi nào ta không nên ra khỏi nhà, Khi nào ta bấm chuông báo cháy?...) WHO-Ai? (Ai đã làm nó? Ai là người làm ra vấn đề này? những ai phải làm những việc này?...) HOW- Như thế nào (Bạn cảm thấy như thế nào khi giúp đỡ người khác? Tự lập có ý nghĩa như thế nào?... Ví dụ khi dạy bài Yêu thương con người trong chương trình giáo dục công dân 6 Tôi cho học sinh quan sát hình ảnh, yêu cầu học sinh làm việc cặp đôi, một học sinh hỏi và một học sinh trả lời. Kết quả học sinh của tôi có thể đặt được các dạng câu hỏi như sau: - Bức ảnh trên đề cập đến nội dung gì? - Nhân vật trong ảnh đã trao cho nhau những gì? - Tại sao họ làm như vậy? - Sự việc trên xảy ra khi nào? - Sự việc trên xảy ra ở đâu? - Ai là người cần sự giúp đỡ? - Cảm nhận của bạn khi xem bức ảnh trên. Từ sản phẩm của học sinh tôi dẫn dắt vào bài học: Yêu thương con người.
  10. 11 2.2. Phương pháp trò chơi Phương pháp trò chơi là phương pháp giáo viên thông qua tổ chức các trò chơi có liên quan đến nội dung bài học có tác dụng phát huy tính tích cực, tạo hứng thú cho học sinh Phương pháp trò chơi là phương pháp giúp cho tiết học trở nên nhẹ nhàng, sinh động, không khô khan, nhàm chán. Thông qua trò chơi, ý nghĩa của nội dung bài học được truyền tải đến người học một cách nhẹ nhàng nhưng sâu sắc, dễ hiểu. Học sinh được lôi cuốn vào quá trình học tập một cách tự nhiên, hứng thú và có tinh thần trách nhiệm, đồng thời giảm bớt được sự căng thẳng, mệt mỏi trong học tập. Ví dụ trong bài ngoại khoá Lí tưởng sống của thanh niên GDCD 9 tôi đã tổ chức cho học sinh phương pháp trò chơi một cuộc thi mô phỏng cuộc thi Đường lên đỉnh Olympia. Qua cách sử dụng trò chơi học sinh biết được lí tưởng sống là gì? Lí tưởng sống của thanh niên Việt Nam hiện nay là gì? Học sinh phân biệt được lí tưởng sống cao đẹp, những tấm gương lí tưởng sống cao đẹp của Việt Nam, xác định được lí tưởng sống đúng đắn của mình
  11. 12 Một số hình ảnh minh hoạ cho phương pháp trò chơi
  12. 13 2.3. Phương pháp thảo luận nhóm Là phương pháp tổ chức học sinh trao đổi theo những nhóm nhỏ, để giải quyết các vấn đề giáo viên yêu cầu. Để thực hiện phương pháp này tôi chia lớp thành 4-5 nhóm, mỗi nhóm tầm 5-6 học sinh, theo nội dung của từng bài, phân công nhóm trưởng, mặc định thời gian các nhóm thảo luận. Thảo luận nhóm các em phát huy được năng lực của bản thân, đồng thời thông qua phương pháp này sẽ hình thành cho các em kĩ năng hợp tác, làm việc nhóm vì vậy tôi tích cực sử dụng phương pháp này trong giảng dạy. Để đảm bảo 100% các em tham gia vào thảo luận nhóm tôi sẽ trao quyền cho vai trò của nhóm trưởng. Nhóm trưởng sẽ trình bày ý kiến của nhóm mình đồng thời nhóm trưởng sẽ điều hành thảo luận trong nhóm, sẽ báo cáo cô giáo những bạn tích cực, và những bạn không tích cực khi tham gia thảo luận. Để tạo hứng thú cho học sinh và tránh sự đơn điệu nhàm chán trong trình bày kết quả thảo luận, giáo viên có thể tổ chức cho học sinh trình bày kết quả thảo luận bằng nhiều hình thức khác nhau: - Có thể viết hoặc vẽ lên giấy khổ to và đại diện nhóm trình bày kết quả Ví dụ: Khi tìm hiểu về những quy định của pháp luật đối với Quyền và nghĩa vụ của công dân trong gia đình (GDCD 8), Giáo viên có thể chia học sinh thành các nhóm nhỏ, yêu cầu các nhóm thảo luận các câu hỏi sau: Nhóm 1: Quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con cái Nhóm 2: Quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ ông bà đối với cháu Nhóm 3: Quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ con cái đối với ông bà, cha mẹ Nhóm 3: Quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ anh chi em trong gia đình - Cô giáo sử dụng điện thoại thông minh để chụp lại hình ảnh để kết nối với bảng thông minh để các em lên trình bày. - Ngoài ra các bạn có thể trình bày bằng các hình thức khác như: Vẽ tranh, sắm vai minh hoạ, thơ ca, bài hát, một người trình bày hoặc nhiều người trình bày
  13. 14 Học sinh trong giờ học sử dụng phương pháp thảo luận nhóm 2.4. Phương pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động giáo dục trong đó từng học sinh được trực tiếp hoạt động thực tiễn trong nhà trường hoặc trong xã hội dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, qua đó phát triển tình cảm, đạo đức, các kỹ năng và tích luỹ kinh nghiệm riêng của cá nhân Hoạt động trải nghiệm là giúp hình thành, phát triển ở học sinh năng lực thích ứng với cuộc sống, năng lực thiết kế và tổ chức hoạt động, năng lực định hướng nghề nghiệp; đồng thời góp phần hình thành, phát triển các phẩm chất
  14. 15 chủ yếu và năng lực chung quy định trong Chương trình tổng thể. những hoạt động trải nghiệm thú vị, bổ ích luôn giúp các em hình thành và phát triển các giá trị và kỹ năng sống phù hợp. Ví dụ đối với những bài cần trang bị cho học sinh những kĩ năng sống cần thiết để ứng phó với những tình huống nguy hiểm như bài: “Phòng ngừa tai nạn do vũ khí, cháy, nổ và các chất độc hại” tôi cho học sinh trải nghiệm, thực hành sử dụng bình chữa cháy, cho học sinh trải nghiệm các tình huống sơ cứu vết thương khi bị bỏng, bang bó vết thương, sơ cứu khi gãy tay, gãy chân, khi bị rắn cắn hoặc tình huống thoát hiểm khi bị hoả hoạn. Học sinh trải nghiệm phòng cháy chữa cháy
  15. 16 Học sinh trải nghiệm băng bó vết thương Hoặc khi dạy bài: Bảo vệ di sản văn hoá hay bài Kế thừa phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc tôi cho học sinh đóng vai làm hướng dẫn viên du lịch để thiệu các danh lam thắng cảnh, các di sản văn hoá ở Việt Nam.
  16. 17 Học sinh trải nghiệm là hướng dẫn viên du lịch Khi dạy bài pháp luật tôi cho học sinh trải nghiệm một phiên toà, mà học sinh sẽ trực tiếp đóng vai: Chánh án, luật sư, đương sự .trực tiếp giải quyết các tình hình huống chanh chấp pháp luật. Ví dụ: Khi dạy bài: Quyền sở hữu tài sản và nghĩa vụ tôn trọng tài sản của người khác: Các bạn học sinh sẽ được hoá thân Làm luật sư để bảo vệ cho thân chủ của mình trong những vụ việc tranh chấp dân sự. Ngôi nhà số 12 phố H thuộc quyền sở hữu của ông Mạnh. Ông Mạnh cho bà Mai thuê tầng 1 để buôn bán. Do làm ăn thua lỗ, bà Mai đã gán lại ngôi nhà đó cho ông Hùng là chủ nợ. Câu hỏi: - Ông Mạnh có quyền cho bà Mai thuê nhà không ? - Bà Mai có quyền gán ngôi nhà đó cho ông Hùng không ? - Ông Hùng có quyền sử dụng ngôi nhà đó không ? - Ông Mạnh cần gặp ai để đòi lại ngôi nhà đó ? Đối với những tình huống pháp luật hình sự tôi cho học sinh mở phiên tòa hình sự.
  17. 18 Em G 13 tuổi, vội đi học nên quên không rút ấm điện khiến nguồn điện bị chập và cháy khu chung cư. Khi xảy ra đám cháy, cư dân rất hoảng loạn đã xô đẩy, giẫm đạp lên nhau để thoát thân, nhưng cửa thoát hiểm đã bị chủ đầu tư xây kín làm phòng chứa đồ. Trước tình hình đó, anh L nhân viên bảo vệ đã phá cửa một căn hộ có ban công, lấy đệm quăng xuống đất, dùng dây bắc thang để mọi người trèo xuống. Thấy vậy, anh T trưởng ban quản lí khu chung cư đã bắt giam ngay chủ đầu tư để điều tra, xác minh sự việc. Trong trường hợp này, những ai phải chịu trách nhiệm pháp lí? Song song với việc tổ chức trò chơi tôi còn cho học sinh sắm vai đóng tiểu phẩm liên quan đến tình huống trong thực tiễn cuộc sống để làm được điều đó tôi giao nhiệm vụ cụ thể cho từng tổ nhóm và cá nhân hướng dẫn các em xây dựng kịch bản phân vai và thể hiện. 2.5. Sử dụng phương pháp tích hợp liên môn Môn giáo dục công dân có liên hệ mật thiết với các môn học trong chương trình giáo dục phổ thông. Đặc biệt là các môn Văn-Sử- Địa. Trong mỗi bài dạy tôi thường tích hợp kiến thức liên môn vào bài dạy để tạo sự hứng thú cho các em. Tuỳ từng bài khác nhau mà liên hệ với từng môn học có liên quan. Đối với học sinh lớp 6, 7 tôi thường liên hệ với môn Văn, liên hệ các em tới các câu chuyện cổ tích. Khi dạy bài: Biết ơn trong chương trình GDCD 6, tôi liên hệ tới câu chuyện ăn khế, trả vàng trong chuyện cổ tích Cây Khế, hay cho học sinh tìm các nhân vật tiêu biểu cho sự biết ơn và vô ơn trong câu chuyện Thạch Sanh. Khi dạy bài Yêu thương con người, Đoàn kết tương trợ tôi liên hệ cho học sinh tới câu chuyện Cô bé lọ lem và câu chuyện về nguồn gốc Quả táo của mối bất hoà trong thần thoại Hi Lạp. Tôi đã đặt câu hỏi cho học sinh: - Tại sao bà dì ghẻ lại luôn tìm cách hãm hại cô bé lọ lem ? Vì lọ lem không phải là con gái ruột của bà, bà muốn cho con gái của mình làm hoàng hậu. - Khi đọc câu chuyện, cảm xúc của em như thế nào khi thấy cô bé lọ lem bị hành hạ? Thương, xót xa cho cô bé lọ lem => Đồng cảm trước những số phận bất hạnh -> Biểu hiện của lòng yêu thương con người
  18. 19 Căm ghét bà dì ghẻ, muốn mụ bị trừng phạt về những tội ác của mình => Căm ghét cái xấu, cái ác -> Biểu hiện của lòng yêu thương con người. Nhưng khi đến với đối tượng là học sinh 8,9 đối tượng học sinh lớn hơn tích hợp liên môn không còn là câu chuyện cổ tích mà là những tác phẩm văn học, kiến thức lịch sử địa lí, sinh học Khi dạy Tình hữu nghị giữa các dân tộc, trên thế giới và bài Hợp tác và phát triển tôi tích hợp kiến thức địa lí,lịch sử để chỉ cho học sinh thấy vị trí các quốc gia Việt Nam xác lập quan hệ đối ngoại. Khi dạy đến bài Lí tưởng sống của thanh niên tôi cho học sinh liên hệ trực tiếp đến các nhân vật lịch sử: Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn Thị Minh Khai, Lý Tự Trọng, Nguyễn Văn Trỗi, Đặng Thuỳ Trâm.. để thấy được lý tưởng sống cao đẹp của Thanh niên Việt Nam trong các giai đoạn lịch sử khác nhau. Khi dạy bài: Quyền và nghĩa vụ của công dân trong hôn nhân, để giải thích tại sao nhà nước lấy độ tuổi kết hôn: nữ là từ đủ 18 tuổi trở lên, nam từ đủ 20 tuổi trở lên được đăng kí kết hôn và tác hại của Tảo hôn tôi liên môn với môn Sinh học, vì đến độ tuổi đó cơ thể con người mới phát triển đầy đủ về sức khoẻ, tâm lí, sinh lí. Ngoài ra còn tích hợp liên môn với các môn: âm nhạc, Mĩ thuật, Toán, Thể dục, Các môn KHTN để tạo hứng thú cho học sinh học bài. 2.6. Đưa thực tiễn, tư liệu cuộc sống vào bài giảng. Những tư liệu này phải phong phú, cập nhật những vấn đề mang tính thời sự mà học sinh quan tâm. Muốn vậy, đòi hỏi người giáo viên phải thường xuyên theo dõi những vấn đề của xã hội đặc biệt khi đọc các thông tin trên báo, mạng internet, truyền hình giáo viên phải lưu lại những vấn đề có thể phục vụ cho bài giảng. Ví dụ như khi dạy Xây dựng tình bạn trong sáng lành mạnh- GDCD8 tôi trực tiếp đưa tấm gương 10 năm cõng bạn đến trường của hai bạn: Ngô Văn Hiếu và Nguyễn Tất Minh, để chứng minh cho học sinh thấy tình bạn đẹp không chỉ có trên sách vở mà hiện hữu trong đời sống thường ngày, muốn có được tình bạn đẹp phải có sự nỗ lực cố gắng xây dựng từ hai phía.
  19. 20 Hoặc khi dạy phần pháp luật tôi sưu tầm những vụ án đã sảy ra để làm minh chứng rõ ràng nhất trong bài dạy. Ví dụ khi dạy bài Vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí để minh chứng cho hành vi cướp giật tài sản dù là nhỏ nhất cũng phải chịu trách nhiệm hình sự: Đó là vụ Ngày 20/7, TAND quận Thủ Đức (TP HCM) tuyên phạt Nguyễn Hoàng Tuấn (ngụ huyện Củ Chi) 10 tháng tù, Ôn Thành Tân (cùng 18 tuổi) 8 tháng 20 ngày tù về tội Cướp giật tài sản. Tài sản mà Tuấn và Tân cướp là cái ổ bánh mì trị giá 45.000 2.7. Đổi mới kiểm tra, đánh giá môn GDCD là biện pháp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và tạo hứng thú học tập bộ môn cho học sinh. Yêu cầu khi kiểm tra đánh giá phải coi trọng đánh giá cả nhận thức và đánh giá thái độ hành vi của học sinh trước những vấn đề liên quan đến nội dung bài học. Kiểm tra đánh giá phải chú trọng đến kiểm tra thái độ, tình cảm, các kỹ năng nhận xét đánh giá, phân biệt đúng sai, khả năng vận dụng và thực hành trong cuộc sống. Qua việc kiểm tra đánh giá phải giúp đỡ học sinh thấy rõ được năng lực học tập môn học của bản thân, động viên khuyến khích học sinh học tập môn