Sử dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề để phát triển năng lực phẩm chất cho học sinh trong dạy học chủ đề: Đồ dùng điện trong gia đình - Môn Công nghệ 8
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sử dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề để phát triển năng lực phẩm chất cho học sinh trong dạy học chủ đề: Đồ dùng điện trong gia đình - Môn Công nghệ 8", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
su_dung_phuong_phap_day_hoc_giai_quyet_van_de_de_phat_trien.docx
Nội dung text: Sử dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề để phát triển năng lực phẩm chất cho học sinh trong dạy học chủ đề: Đồ dùng điện trong gia đình - Môn Công nghệ 8
- PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ BẮC GIANG TRƯỜNG THCS LÊ LỢI BÁO CÁO BIỆN PHÁP THAM GIA HỘI THI GIÁO VIÊN DẠY GIỎI CẤP TỈNH CHU KỲ 2020-2024 Tên biện pháp: “Sử dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề để phát triển năng lực phẩm chất cho học sinh trong dạy học chủ đề: Đồ dùng điện trong gia đình - Môn Công nghệ 8” Họ và tên: Vũ Minh Xuân Môn giảng dạy: Công nghệ Trình độ chuyên môn: Đại học Chức vụ: TPCM Đơn vị công tác:Trường THCS Lê Lợi TP Bắc Giang, ngày 01 tháng 10 năm 2022
- PHẦN A. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lí do chọn giải pháp Năm học 2021 - 2022 là năm học bắt đầu thực hiện chương trình giáo dục phổ thông 2018 bắt đầu ở cấp THCS. Trong đó, chương trình giáo dục phổ thông môn Công nghệ đã xác định mục tiêu của việc học tập môn Công nghệ nhằm giúp học sinh hình thành, phát triển các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung được quy định trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể; hình thành, phát triển năng lực công nghệ với các biểu hiện về nhận thức công nghệ, tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ Công nghệ và vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học về Công nghệ vào thực tiễn. Để học sinh đạt được các mục tiêu đó, giáo viên (GV) phải thay đổi phương pháp giáo dục nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo, chủ động của học sinh đồng thời phát huy hết được năng lực và phẩm chất của học sinh. Học sinh( HS) đóng vai trò trung tâm trong việc tìm kiếm, chiếm lĩnh nguồn tri thức cho bản thân (Bộ GD-ĐT, 2018b). Một trong những năng lực chung cần phát triển cho người học là năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. Để phát triển năng lực này, sử dụng một trong những phương pháp dạy học tích cực đó là phương pháp dạy học giải quyết vấn đề. Việc sử dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề góp phần tích cực vào việc rèn luyện tư duy phê phán, tư duy sáng tạo cho học sinh. Trên cơ sở sử dụng vốn kiến thức và kinh nghiệm đã có học sinh sẽ xem xét, đánh giá, thấy được vấn đề cần giải quyết.Trong khi phát hiện và giải quyết vấn đề, học sinh sẽ huy động được tri thức và khả năng cá nhân, khả năng hợp tác, trao đổi, thảo luận với bạn bè để tìm ra cách giải quyết vấn đề tốt nhất.Học sinh được lĩnh hội tri thức, kĩ năng và phương pháp nhận thức. Trong chủ đề: Đồ dùng điện trong gia đình, học sinh nhận biết được cơ sở phân loại, cấu tạo, nguyên lí làm việc và cách sử dụng một số đồ dùng điện thường dùng trong gia đình, học sinh nhận biết được cách tính điện năng tiêu thụ và sử dụng điện năng một cách hợp lí, tiết kiệm trong gia đình. Đây đều là những kiến thức có thể xây dựng rất nhiều tình huống trong dạy học. Đó là thuận lợi trong việc sử dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề để hình thành và phát triển năng lực và phẩm chất cho học sinh. Qua thực tế dạy học, khi tôi sử dụng phương pháp vấn đáp, phương pháp thuyết trình kết hợp với hình ảnh trong các hoạt động khởi động, hình thành kiến thức mới, luyện tập và vận dụng. Học sinh còn gặp lúng túng khi giải quyết các tình huống xảy ra trong quá trình học tập và cuộc sống. Năng lực giải quyết vấn đề
- của học sinh còn hạn chế. Trong một số trường hợp, học sinh chưa biết cách giải quyết được vấn đề. Từ những lí do trên, tôi chọn giải pháp “Sử dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề để phát triển năng lực phẩm chất cho học sinh trong dạy học chủ đề: Đồ dùng điện trong gia đình- Môn Công nghệ 8” 2. Mục đích của giải pháp 2.1. Đối với học sinh - Học sinh phát triển phẩm chất và năng lực chung đặc biệt là năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực đặc thù công nghệ thông qua các hoạt động học tập trên lớp. - Nâng cao hứng thú học tập của học sinh, nâng cao chất lượng dạy học môn Công nghệ 8. 2.2. Đối với giáo viên - Xây dựng được kế hoạch dạy học có sử dụng dạy học giải quyết vấn đề, tổ chức được các hoạt động dạy học có sử dụng dạy học giải quyết vấn đề nhằm phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh trong chủ đề: Đồ dùng điện trong gia đình - Môn Công nghệ 8. - Giáo viên đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động của người học, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu đổi mới của chương trình giáo dục phổ thông 3. Nhiệm vụ giải pháp - Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc sử dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề trong dạy học chủ đề: Đồ dùng điện trong gia đình- môn Công nghệ 8 - Xây dựng một số bài dạy sử dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề trong dạy học chủ đề: Đồ dùng điện trong gia đình- môn Công nghệ 8 - Tổ chức dạy học có sử dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề trong dạy học chủ đề: Đồ dùng điện trong gia đình- môn Công nghệ 8 4. Đối tượng giải pháp Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề trong dạy học chủ đề: Đồ dùng điện trong gia đình - môn Công nghệ 8 5. Giới hạn phạm vi giải pháp Chủ đề: Đồ dùng điện trong gia đình - môn Công nghệ 8
- 6. Tính mới của giải pháp - Học sinh tiếp cận phương pháp học tập mới, phát hiện và phát huy được phẩm chất và năng lực của bản thân. Chuẩn bị các điều kiện để tiếp cận đổi mới chương trình giáo dục THPT bắt đầu thực hiện từ lớp 10, thực hiện bắt đầu từ năm học 2022-2023. - Giáo viên tiếp cận với phương pháp dạy học mới, đổi mới phương pháp dạy học từ tiếp cận nội dung sang dạy học phát triển năng lực, phẩm chất của học sinh, đáp ứng về chuẩn nghề nghiệp, chuyên môn nghiệp vụ để thực hiện chương trình đổi mới giáo dục phổ thông 2018, thực hiện bắt đầu từ lớp 6 năm học 2021 - 2022. PHẦN B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. Thực trạng công tác dạy và học môn Công nghệ 8 ở trường THCS Lê Lợi 1. Ưu điểm Ban giám hiệu trường THCS Lê Lợi luôn có kế hoạch chỉ đạo kịp thời về công tác đổi mới quá trình dạy học ở nhà trường. Trường THCS Lê Lợi có cơ sở vật chất đầy đủ, lớp học có bàn ghế đủ cho học sinh, có tivi, máy chiếu, đồ dùng dạy học đủ phục vụ cho quá trình dạy học, có các phòng học chức năng để giáo viên thực hiện các nội dung thực hành, dự án. Bản thân giáo viên được đào tạo chuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ, thành thạo về công nghệ thông tin, không ngừng học hỏi tiếp cận những nội dung đổi mới về kiến thức và phương pháp. Tham gia đầy đủ các buổi bồi dưỡng thường xuyên về chương trình giáo dục phổ thông mới của BGD đào tạo tổ chức, các buổi tập huấn về đổi mới sách giáo khoado sở giáo dục tổ chức. Bước đầu áp dụng vào trong quá trình dạy học, giáo dục. Học sinh trường THCS có đủ sách vở, đồ dùng học tập đầy đủ thuận tiện cho quá trình học tập của học sinh, ngoài ra học sinh thành thạo về công nghệ thông tin, thuận tiện cho việc tra cứu tài liệu. Học sinh phối hợp với giáo viên trong các hoạt động giáo dục và dạy học để được kết quả cao hơn. 2. Hạn chế và nguyên nhân hạn chế 2.1.Giáo viên Hiện nay, đa phần là thực hiện dạy học định hướng nội dung. Giáo viên là người truyền thụ tri thức, học sinh tiếp thu những tri thức được quy định sẵn. Học sinh có phần “thụ động”, ít phản biện.Giáo án thường được thiết kế theo trình tự đường thẳng, chung cho cả lớp. Học sinh khó có điều kiện tìm tòi bởi kiến thức đã được có sẵn trong sách.
- Trong quá trình tổ chức dạy học, ở các khâu khởi động giới thiệu bài, hình thành kiến thức mới, luyện tập và củng cố, giáo viên sử dụng phương pháp vấn đáp, phương pháp thuyết trình kết hợp với sử dụng tranh ảnh ở một số nội dung bài chưa gợi mở sự hứng thú của học sinh, chưa thu hút sự tập trung, chú ý của học sinh, học sinh tiếp cận kiến thức mới còn rời rạc, nên vận dụng thực tiễn còn hạn chế, khi gặp vấn đề còn lúng túng chưa giải quyết được. Giáo viên bước đầu sử dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực, tổ chức các hoạt động trên lớp để phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh, số lượng và kĩ thuật dạy học áp dụng còn chưa nhiều. Nguyên nhân là do giáo viên chưa được tập huấn nhiều, hệ thống lí luận về dạy học phát triển năng lực của học sinh còn chưa đầy đủ, giáo viên chưa có nhiều tài liệu để tham thảo. Ngoài ra, dạy học theo hướng phát triển phẩm chất năng lực của học sinh đã được giáo viên áp dụng nhưng hiệu quả vẫn chưa cao. Nguyên nhân là do hiện tại giáo viên mới bắt đầu được tập huấn qua các modul bồi dưỡng thường xuyên theo chương trình tập huấn của Bộ giáo dục về chương trình Phổ thông 2018, tài liệu tập huấn còn ít, các tiết dạy mẫu về dạy học phát triển năng lực và phẩm chất cho học sinh còn ít, chưa có nhiều. Giáo viên vừa mày mò, vừa học, vừa tổ chức dạy học, vừa rút kinh nghiệm. 2.2. Học sinh Học sinh chưa phát huy được hết năng lực và phẩm chất của bản thân. Năng lực chung đặc biệt là năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo của học sinh còn hạn chế. Học sinh chưa tìm hỏi và chưa biết cách giải quyết các tình huống phát sinh trong bài học và thực tiễn cuộc sống, trách nhiệm khi được phân công nhiệm vụ, chỉ có một số bạn hoàn thành, chưa ý thức bản thân mình phải làm gì. Nguyên nhân là do một số học sinh vẫn còn thói quên học tập theo lối đọc - chép thuần túy, thiên về ghi nhớ kiến thức, ít quan tâm đến việc vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Mặt khác, do nhận thức về môn học còn chưa đúng đắn nên học sinh có tâm lý coi thường, không quan tâm chú trọng vào việc học tập, không cố gắng rèn luyện, không chú ý trong giờ học. Bên cạnh đó bản thân của các em cũng chưa thật sự yêu thích môn học. Các em chỉ học theo nghĩa vụ chứ chưa say mê dẫn đến kết quả học tập của các em đối với môn chưa cao, năng lực chung và năng lưc công nghệ của các em còn hạn chế. II. Biện pháp sử dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề để phát triển năng lực phẩm chất cho HS trong dạy học chủ đề: Đồ dùng điện trong gia đình- Môn Công nghệ 8
- Xuất phát từ lí do, thực trạng việc dạy và học môn Công nghệ 8 ở trường THCS Lê Lợi, tôi đề xuất các biện pháp giải quyết được vấn đề như sau: Biện pháp 1. Sử dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề trong hoạt động phần khởi động để phát triển năng lực, phẩm chất trong dạy học chủ đề: Đồ dùng điện trong gia đình- Môn Công nghệ 8 Biện pháp 2. Sử dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề trong hoạt động hình thành kiến thức mới để phát triển năng lực, phẩm chất trong dạy học chủ đề: Đồ dùng điện trong gia đình- Môn Công nghệ 8 Biện pháp 3. Sử dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề trong hoạt động luyện tập để phát triển năng lực, phẩm chất trong dạy học chủ đề: Đồ dùng điện trong gia đình- Môn Công nghệ 8 Biện pháp 4. Sử dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề trong hoạt động cvận dụng để phát triển năng lực, phẩm chất trong dạy học chủ đề: Đồ dùng điện trong gia đình- Môn Công nghệ 8 Biện pháp 5. Sử dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề trong dạy học thực hành để phát triển năng lực, phẩm chất trong dạy học chủ đề: Đồ dùng điện trong gia đình- Môn Công nghệ 8 1. Biện pháp 1. Sử dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề trong hoạt động phần khởi động để phát triển năng lực, phẩm chất trong dạy học chủ đề: Đồ dùng điện trong gia đình - Môn Công nghệ 8 Khi dạy Chủ đề. Đồ dùng loại điện - quang (Công nghệ 8). Giáo viên có thể sử dụng dạy học giải quyết vấn đề vào hoạt động khởi động như sau: *Mục tiêu: Giới thiệu về đồ dùng loại điện - quang Nội dung: HS nhận biết được đồ dùng loại điện - quang Sản phẩm: Báo cáo hoạt động nhóm. Giải quyết tình huống Hình thành phẩm chất, năng lực: - Năng lực tự chủ và tự học - Năng lực giao lưu và hợp tác: Biết sử dụng thông tin để trình bày, thảo luận các vấn đề liên quan đến đồ dùng loại điện - quang, lắng nghe và phản hồi tích cực trong quá trình hoạt động nhóm. - Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: Giải quyết được các vấn đề liên quan đến đồ dùng loại điện - quang - Năng lực công nghệ:
- + Nhận thức công nghệ: Nhận biết được đồ dùng loại điện - quang Phẩm chất: Chăm chỉ, trách nhiệm Giai đoạn 1: Nhận biết vấn đề Giáo viên đưa ra tình huống như sau: Nhà bạn Trâm Anh vừa xây dựng ngôi nhà 3 tầng. Để chiếu sáng cho ngôi nhà, bố bạn Trâm Anh phân vân không biết sử dụng loại đèn điện nào trong số các loại đèn điện sau: Đèn sợi đốt, đèn huỳnh quang, đèn compac huỳnh quang. Để giúp bố bạn Trâm Anh lựa chọn loại đèn điện phù hợp thì em cần phải làm gì? Giai đoạn 2: Lập kế hoạch giải quyết vấn đề Giáo viên yêu cầu học sinh trao đổi cặp bàn, thảo luận và giải quyết tình huống trong thời gian 2 phút. HS trao đổi cặp bàn, thảo luận và đề xuất giả thuyết giải quyết vấn đề, đưa ra các phương án và lập kế hoạch giải quyết vấn đề. Giai đoạn 3: Thực hiện kế hoạch Sau khi học sinh tiếp cận tình huống có vấn đề, học sinh thảo luận với nhau nếu học sinh chưa nghĩ ra được cách giải quyết tình huống thì giáo viên có thể gợi ý cho học sinh Trên cơ sở gợi ý của GV, HS từ từ giải quyết được tình huống. Giai đoạn 4: Kiểm tra, đánh giá và kết luận Giáo viên gọi đại diện 1-2 nhóm trình bày. Nhóm khác nhận xét và bổ sung. Đại diện nhóm trình bày: Để giúp bố bạn Trâm Anh lựa chọn loại đèn điện phù hợp thì em cần phải mô tả cấu tạo, nguyên lý hoạt động, đặc điểm, số liệu kỹ thuật, cách sử dụng của từng loại đèn. Trên cơ sở đó thì bố bạn Trâm Anh sẽ lựa chọn được loại đèn phù hợp với gia đình. Giáo viên nhận xét phần trình bày của học sinh. Giáo viên chốt lại kiến thức. Giáo viên vào bài mới: Đèn điện là thiết bị dùng để chiếu sáng. Vậy các loại đèn điện cócấu tạo, nguyên lý hoạt động, đặc điểm, số liệu kỹ thuật, cách sử dụng như thế nào? Để trả lời câu hỏi thì chúng ta vào bài hôm nay. Thông qua việc thực hiện hoạt động khởi động, học sinh biết được các loại đèn điện. Qua đó học sinh bắt đầu định hình nhiệm vụ học tập của bài này là những kiến thức cấu tạo, nguyên lý hoạt động, đặc điểm, số liệu kỹ thuật, cách sử dụng các loại đèn điện. Qua hoạt động nhóm cặp bàn phát triển năng lực giao lưu và
- hợp tác, năng lực tự học và tự chủ trong việc thảo luận, trình bày, lắng nghe và hợp tác trong nhóm. Khi giải quyết được tình huống có vấn đề được đặt ra, kỹ năng giải quyết của học sinh bắt đầu được hình thành, qua đó phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. Thông qua các hoạt động học tập, phát triển phẩm chất chăm chỉ, trách nhiệm của bản thân khi được phân công và hoàn thành nhiệm vụ được giao. 2. Biện pháp 2. Sử dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề trong hoạt động hình thành kiến thức mới để phát triển năng lực, phẩm chất trong dạy học chủ đề: Đồ dùng điện trong gia đình- Môn Công nghệ 8 Bài 41. Đồ dùng loại điện – nhiệt. Bàn là điện (Công nghệ 8) II. Bàn là điện 1.Cấu tạo Mục tiêu: Nêu được câu tạo của bàn là điện Nội dung: Học sinh biết được cấu tạo của bàn là điện Sản phẩm: Báo cáo hoạt động nhóm. Giải quyết tình huống. Hình thành phẩm chất, năng lực: - Năng lực tự chủ và tự học - Năng lực giao lưu và hợp tác: Biết sử dụng thông tin để trình bày, thảo luận các vấn đề liên quan đến bàn là điện, lắng nghe và phản hồi tích cực trong quá trình hoạt động nhóm. - Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: Giải quyết được các vấn đề liên quan đến cấu tạo bàn là, giải quyết được tình huống đặt ra. - Năng lực công nghệ: + Nhận thức công nghệ: Nhận biết được cấu tạo của bàn là điện + Phẩm chất: Chăm chỉ, trách nhiệm Khi tổ chức hoạt động hình thành kiến thức mới trong phần mục I.1. Bài 41. Đồ dùng loại nhiệt - điện. Bàn là điện, giáo viên có thể tổ chức các hoạt động như sau: Giai đoạn 1: Nhận biết vấn đề Giáo viên đưa ra tình huống: Thu, Mai, Minh ngồi tranh luận với nhau về cấu tạo bàn là điện Thu cho rằng “Bàn là điện có cấu tạo bởi hai bộ phận chính là dây đốt nóng và vỏ, ngoài ra còn có bộ phận như đèn tín hiệu, rơ le nhiệt, núm điều chỉnh nhiệt
- độ. Dây đốt nóng làm bằng hợp kim niken - crôm. Đế bàn là làm bằng gang hoặc hợp kim nhôm. Nắp được làm bằng đồng, thép mạ crom hoặc nhựa chịu nhiệt” Mai thì cho rằng “Bàn là điện cóbộ phận như đèn tín hiệu, rơ le nhiệt, núm điều chỉnh nhiệt độ, một số loại có bộ phận tự động điều chỉnh nhiệt độ và tự động phun nước ” Minh thì cho rằng “Bàn là điện được cấu tạo bởi bộ phận điều chỉnh nhiệt độ và tự động phun nước” Theo các em, bạn nào nói đúng về cấu tạo của bàn là điện? Tại sao? Giai đoạn 2: Lập kế hoạch giải quyết vấn đề Giáo viên yêu cầu học sinh thảo luận nhóm trong thời gian 3 phút và đưa ra ý kiến của nhóm được ghi bằng bút dạ vào giấy A4. Học sinh thảo luận nhóm và đề xuất giả thuyết giải quyết vấn đề, đưa ra các phương án và lập kế hoạch giải quyết vấn đề. Giai đoạn 3: Thực hiện kế hoạch Học sinh thảo luận và chốt lại phương án giải quyết vấn đề. Giai đoạn 4: Kiểm tra, đánh giá và kết luận Giáo viên chia bảng làm 3 phần tương ứng với câu trả lời đồng ý với ý kiến của bạn Thu, Mai, Minh. Kết thúc thảo luận nhóm, giáo viên yêu cầu các nhóm lên bảng dán ý kiến của nhóm mình và giải thích lựa chọn của nhóm mình. Các nhóm học sinh lên bảng dán ý kiến của mình và giải thích sự lựa chọn của nhóm mình. Giáo viên nhận xét, nghe ý kiến giải thích và chốt lại kiến thức cấu tạo của bàn là điện. Thông qua việc thực hiện hoạt động hình thành kiến thức mới, HS giải quyết được tình huống là xác định được bạnThu nói đúng và đưa ra giải thích là câu trả lời của bạn Thu đầy đủ nhất về cấu tạo của bàn là điện. Qua đó, nhận biết được cấu tạo của bàn là điện. HS phát triển năng lực nhận thức công nghệ là nhận biết cấu tạo của bàn là điện. Qua hoạt động nhóm phát triển năng lực giao lưu và hợp tác, năng lực tự học và tự chủ trong việc thảo luận, trình bày, lắng nghe và hợp tác trong nhóm. Khi giải quyết được tình huống có vấn đề được đặt ra, kỹ năng giải quyết của học sinh bắt đầu được hình thành, qua đó phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. Thông qua các hoạt động học tập, phát triển phẩm chất chăm
- chỉ, trách nhiệm của bản thân khi được phân công và hoàn thành nhiệm vụ được giao. 3. Biện pháp 3. Sử dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề trong hoạt động luyện tập để phát triển năng lực, phẩm chất trong dạy học chủ đề: Đồ dùng điện trong gia đình- Môn Công nghệ 8 Bài 42. Bếp điện, nồi cơm điện(Công nghệ 8) Mục tiêu: Củng cố kiến thức về sử dụng nồi cơm điện Nội dung: Học sinh nhận biết được cách sử dụng nồi cơm điện Sản phẩm: Hoàn thành nhiệm vụ. Giải quyết tình huống. Hình thành phẩm chất, năng lực: - Năng lực tự chủ và tự học - Năng lực giao lưu và hợp tác: Biết sử dụng thông tin để trình bày, thảo luận các vấn đề liên quan đến nồi cơm điện, lắng nghe và phản hồi tích cực trong quá trình hoạt động nhóm. - Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: Giải quyết được các vấn đề liên quan đến nồi cơm điện - Năng lực công nghệ: + Sử dụng công nghệ: Cách sử dụng nồi cơm điện Phẩm chất: Chăm chỉ, trách nhiệm Để tổ chức hoạt động luyện tập bài 42. Bếp điện, nồi cơm điện. Giáo viên có thể tổ chức hoạt động luyện tập như sau: Giai đoạn 1: Nhận biết vấn đề Giáo viên đưa ra tình huống như sau: Nhà bạn Cường có bốn người: Bố, mẹ, Cường và em gái. Mẹ bạn Cường cần chuẩn bị bữa cơm cho gia đình. Mẹ bạn Cường nên sử dụng loại nồi cơm điện nào phù hợp với gia đình bạn ấy trong 3 loại dưới đây, biết điện áp của mạng điện nhà bạn Cường là 220V: A.Nồi cơm điện có thông số: 110V - 700W; dung tích: 1,8 L. B. Nồi cơm điện có thống số: 110V- 280W; dung tích 0,6 L C. Nồi cơm điện có thông số: 220V – 680W; dung tích 1,8L Giai đoạn 2: Lập kế hoạch giải quyết vấn đề Giáo viên yêu cầu học sinh thảo luận nhóm trong thời gian 3 phút và đưa ra ý kiến của nhóm.
- Học sinh phân công nhiệm vụ, thảo luận nhóm và đề xuất giả thuyết giải quyết vấn đề, đưa ra các phương án và lập kế hoạch giải quyết vấn đề. Giai đoạn 3: Thực hiện kế hoạch HS thảo luận và chốt lại phương án giải quyết vấn đề. Giai đoạn 4: Kiểm tra, đánh giá và kết luận Giáo viên yêu cầu đại diện nhóm trình bày ý kiến của nhóm mình, đại diện nhóm khác nhận xét và bổ sung. Đại diện nhóm trình bày ý kiến của nhóm mình, đại diện nhóm khác nhận xét và bổ sung. Học sinh các nhóm trình bày: Nhà bạn Cường có bốn người: Bố, mẹ, Cường và em gái. Mẹ bạn Cường cần chuẩn bị bữa cơm cho gia đình. Điện áp định mức của mạng điện nhà bạn Cường là 220V. Mẹ bạn Cường nên chọn nồi có thông số 220V – 680W; dung tích 1,8L phù hợp với điện áp mạng điện gia đình, dung tích nồi vừa phù hợp với số lượng người trong gia đình. Giáo viên nhận xét phần trình bày của HS. Giáo viên nhận xét và chốt lại kiến thức. Thông qua việc thực hiện hoạt động luyện tập, học sinh giải quyết được tình huống là sử dụng nồi cơm điện phù hợp với điện áp định mức của gia đình, vừa phù hợp với số lượng người trong gia đình. Học sinh phát triển năng lực sử dụng công nghệ sử dụng nồi cơm điện thích hợp. Qua hoạt động nhóm phát triển năng lực giao lưu và hợp tác, năng lực tự học và tự chủ trong việc thảo luận, trình bày, lắng nghe và hợp tác trong nhóm. Khi giải quyết được tình huống có vấn đề được đặt ra, kỹ năng giải quyết của học sinh bắt đầu được hình thành, qua đó phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. Thông qua các hoạt động học tập, phát triển phẩm chất chăm chỉ, trách nhiệm của bản thân khi được phân công và hoàn thành nhiệm vụ được giao. 4. Biện pháp 4. Sử dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề trong hoạt động vận dụng để phát triển năng lực, phẩm chất trong dạy học chủ đề: Đồ dùng điện trong gia đình- Môn Công nghệ 8 Bài 48. Sử dụng hợp lý điện năng(Công nghệ ) Mục tiêu: Vận dụng kiến thức về sử dụng hợp lý điện năng trong thực tiễn Nội dung: Học sinh xác định được các biện pháp sử dụng hợp lý điện năng Sản phẩm: Báo cáo hoạt động nhóm. Giải quyết tình huống.
- Hình thành phẩm chất, năng lực: - Năng lực tự chủ và tự học - Năng lực giao lưu và hợp tác:Biết sử dụng thông tin để trình bày, thảo luận các vấn đề liên quan đến sử dụng hợp lý điện năng, lắng nghe và phản hồi tích cực trong quá trình hoạt động nhóm. - Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: Giải quyết được các vấn đề liên quan đến sử dụng hợp lý điện năng - Năng lực công nghệ: + Sử dụng công nghệ: Thực hiện các biện pháp sử dụng hợp lý và tiết kiệm điện trong gia đình Phẩm chất: Chăm chỉ, trách nhiệm Để tổ chức hoạt động vận dụng bài 48. Sử dụng hợp lý điện năng, GV có thể tổ chức hoạt động vận dụng như sau: Giai đoạn 1: Nhận biết vấn đề Giáo viên đưa ra tình huống như sau: Quỳnh Anh từ bà nội về nhà lúc 19h, bước vào phòng khách thấy quạt bật vù vù, đèn bật sáng chưng. Đi vào bếp thấy quạt đang chạy, đèn đang bật nhưng không thấy mẹ đâu. Một lúc sau thấy mẹ từ trên tầng xuống, Quỳnh Anh nhẹ nhàng bảo với mẹ là mẹ không sử dụng thì tắt các thiết bị điện để tiết kiện điện năng. Mẹ Quỳnh Anh bảo với Quỳnh Anh rằng “Các thiết bị điện trong phòng khách, phòng bếp đều là dùng thiết bị điện tiết kiệm năng lượng, dù có bật thì cũng không tiêu thụ nhiều điện năng”. Em thấy Quỳnh Anh đúng hay mẹ Quỳnh Anh đúng? Giải thích vì sao? Giai đoạn 2: Lập kế hoạch giải quyết vấn đề? Giáo viên yêu cầu học sinh thảo luận nhóm cặp bàn trong thời gian 2 phút và đưa ra ý kiến của nhóm. HS phân công nhiệm vụ, thảo luận nhóm và đề xuất giả thuyết giải quyết vấn đề, đưa ra các phương án và lập kế hoạch giải quyết vấn đề. Giai đoạn 3: Thực hiện kế hoạch HS thảo luận và chốt lại phương án giải quyết vấn đề. Giai đoạn 4: Kiểm tra, đánh giá và kết luận GV yêu cầu đại diện nhóm trình bày ý kiến của nhóm mình, đại diện nhóm khác nhận xét và bổ sung.
- Đại diện nhóm trình bày ý kiến của nhóm mình, đại diện nhóm khác nhận xét và bổ sung. HS các nhóm trình bày: Bạn Quỳnh Anh nói đúng, Mẹ Quỳnh Anh nói không đúng. Dù các thiết bị điện trong phòng gia đình là thiết bị tiết kiệm năng lượng nhưng do bật không có nhu cầu thì vẫn tiêu thụ nhiều điện năng, mà các thiết bị lại bật trong giờ cao điểm nên càng tiêu thụ nhiều điện năng. GV nhận xét phần trình bày của HS. GV nhận xét và chốt lại kiến thức. Thông qua việc thực hiện hoạt động vận dụng, HS giải quyết được tình huống là xác định được các biện pháp sử dụng hợp lý và tiết kiệm điện năng trong gia đình. HS phát triển năng lực sử dụng công nghệ thực hiện được các biện pháp sử dụng hợp lý. Qua hoạt động nhóm phát triển năng lực giao lưu và hợp tác, năng lực tự học và tự chủ trong việc thảo luận, trình bày, lắng nghe và hợp tác trong nhóm. Khi giải quyết được tình huống có vấn đề được đặt ra, kỹ năng giải quyết của HS bắt đầu được hình thành, qua đó phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, HS có thể vận dụng thực hiện các biện pháp sử dụng hợp lý điện năng trong gia đình của bản thân mình. Thông qua các hoạt động học tập, phát triển phẩm chất chăm chỉ, trách nhiệm của bản thân khi được phân công và hoàn thành nhiệm vụ được giao. 5. Biện pháp 5. Sử dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề trong dạy học thực hành để phát triển năng lực, phẩm chất trong dạy học chủ đề. Đồ dùng điện trong gia đình- Môn Công nghệ 8 Bài 49. Thực hành. Tính toán tiêu thụ điện năng trong gia đình(Công nghệ 8) Mục tiêu: Tính toán được điện năng tiêu thụ trong gia đình Nội dung: HS tính toán được điện năng tiêu thụ trong gia đình Sản phẩm: Báo cáo hoạt động nhóm. Giải quyết tình huống. Hình thành phẩm chất, năng lực: - Năng lực tự chủ và tự học - Năng lực giao lưu và hợp tác:Biết sử dụng thông tin để trình bày, thảo luận các vấn đề liên quan đến tính toán điện năng tiêu thụ trong gia đình, lắng nghe và phản hồi tích cực trong quá trình hoạt động nhóm. - Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: Giải quyết được các vấn đề học tập xảy ra, giải quyết được tình huống đặt ra.
- - Năng lực công nghệ: + Nhận biết công nghệ: Nhận biết được cách tính toán điện năng tiêu thụ trong gia đình + Sử dụng công nghệ: Tính toán được điện năng tiêu thụ trong gia đình Phẩm chất: Chăm chỉ, trách nhiệm Để tổ chức hoạt động dạy học thực hành bài 49. Tính toán được điện năng tiêu thụ trong gia đình, GV có thể tổ chức hoạt động vận dụng như sau: Giai đoạn 1: Nhận biết vấn đề GV đưa ra tình huống như sau: Nhà bạn Lan có mức tiêu thụ điện năng của các đồ dùng điện trong ngày 13 tháng 08 năm 2021 như sau: TT Tên đồ dùng Công Số Thời gian sử Tiêu thụ điện suất điện lượng dụng trong ngày năng trong ngày P(W) t(h) A(Wh) 1 Đèn compac 25 10 4 2 Đèn ống huỳnh 45 2 4 quang và chấn lưu 3 Quạt bàn 65 2 8 4 Quạt trần 80 2 4 5 Tủ lạnh 120 1 24 6 Tivi 70 1 6 7 Bếp điện 1000 1 2 8 Nồi cơm điện 630 1 1 9 Bơm nước 250 1 1 Ba bạn Huy, Mai Anh, Tuấn sau một hồi tính toán, Huy cho biết điện năng tiêu thụ nhà bạn Lan trong 1 tháng(30 ngày) hết 275KWh; Mai Anh thì đưa ra kết quả là 280Wh; Tuấn thì đưa ra kết quả 249,6KWh. Vậy trong ba bạn Huy, Mai Anh, Tuấn bạn nào tính đúng? Giải thích vì sao? Giai đoạn 2: Lập kế hoạch giải quyết vấn đề GV yêu cầu HS thảo luận nhóm trong thời gian 10 phút và đưa ra ý kiến của nhóm.
- HS phân công nhiệm vụ, thảo luận nhóm và đề xuất giả thuyết giải quyết vấn đề, đưa ra các phương án và lập kế hoạch giải quyết vấn đề. Giai đoạn 3: Thực hiện kế hoạch HS thảo luận và chốt lại phương án giải quyết vấn đề. Giai đoạn 4: Kiểm tra, đánh giá và kết luận GV yêu cầu đại diện nhóm trình bày ý kiến của nhóm mình, đại diện nhóm khác nhận xét và bổ sung. Đại diện nhóm trình bày ý kiến của nhóm mình, đại diện nhóm khác nhận xét và bổ sung. HS các nhóm trình bày: Tính điện năng tiêu thụ nhà bạn Lan trong 1 ngày là TT Tên đồ dùng Công Số Thời gian sử Tiêu thụ điện suất điện lượng dụng trong năng trong P(W) ngày t(h) ngày A(Wh) 1 Đèn compac 25 10 4 1000Wh 2 Đèn ống huỳnh 45 2 4 360Wh quang và chấn lưu 3 Quạt bàn 65 2 8 1040Wh 4 Quạt trần 80 2 4 640Wh 5 Tủ lạnh 120 1 24 2880Wh 6 Tivi 70 1 6 420Wh 7 Bếp điện 1000 1 2 2000Wh 8 Nồi cơm điện 630 1 1 630Wh 9 Bơm nước 250 1 1 250Wh Tổng 8230Wh Tiêu thụ điện năng của gia đình Lantrong 1 tháng là: 8230*30= 246900Wh= 246,9KWh Vậy bạn Tuấn tính toán chính xác, bạn Huy và Mai Anh tính chưa chính xác GV nhận xét phần trình bày của HS. GV nhận xét và chốt lại kiến thức.
- Thông qua việc thực hiện hoạt động thực hành, HS giải quyết được tình huống là tính toán được điện năng tiêu thụ của nhà bạn Lantrong một tháng, xác định được bạn Tuấn tính toán điện năng tiêu thụ đúng.HS phát triển năng lực sử dụng công nghệ tính toán điện năng tiêu thụ trong gia đình. Qua hoạt động nhóm phát triển năng lực giao lưu và hợp tác, năng lực tự học và tự chủ trong việc thảo luận, trình bày, lắng nghe và hợp tác trong nhóm. Khi giải quyết được tình huống có vấn đề được đặt ra, kỹ năng giải quyết của HS bắt đầu được hình thành, qua đó phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, HS có thể vận dụng tính toán được điện năng tiêu thụ trong gia đình. Thông qua các hoạt động học tập, phát triển phẩm chất chăm chỉ, trách nhiệm của bản thân khi được phân công và hoàn thành nhiệm vụ được giao. PHẦN C. MINH CHỨNG VỀ HIỆU QUẢ CỦA BIỆN PHÁP Sau quá trình sử dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề trong dạy học chủ đề: Đồ dùng điện trong gia đình- Môn Công nghệ 8, tôi thu được kết quả sau: Sử dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề trong tất cả các hoạt động, đã tạo ra hoạt động đa dạng phong phú, HS được tham gia gia vào các hoạt động với nhiệm vụ khác nhau và các mức độ yêu cầu khác nhau. Trong quá trình học tập, HS tích cực, nỗ lực tham gia và bị cuốn hút vào các hoạt động để hoàn thành vai trò, trách nhiệm mình. Thông qua hoạt động này hình thành người học tính chủ động, năng động, linh hoạt, sáng tạo và tinh thần tách nhiệm cao trong học tập đối với chính mình và các bạn trong lớp hình thành và phát triển phẩm chất tự học và tự chủ, chăm chỉ, trách nhiệm. Đồng thời phát triển năng lực về giao lưu và hợp tác luôn hoàn thành nhiệm vụ được giao, phối hợp với các thành viên trong nhóm hoàn thành nhiệm vụ. Thông qua việc dạy học giải quyết vấn đề, HS có thể giải quyết các vấn đề học tập, trải nghiệm các tình huống thực tế từ “tự nghiên cứu” đến “hợp tác với bạn và thầy” và quay trở về “tự nghiên cứu” ở những tình huống mới dần dần sẽ tạo cho HS năng lực tự học, tự nghiên cứu, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. Phát triển năng lực nhận thức công nghệ và năng lực sử dụng công nghệ, áp dụng những kiến thức đã học vào trong thực tiễn cuộc sống. Qua các hoạt động học tập, HS tiếp nhận các năng lực công nghệ như nhận thức công nghệ, sử dụng công nghệ, đánh giá công nghệ. HS nhận biết được kiến thức mới, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, áp dụng vào cuộc sống của gia đình và bản thân. Đồng thời nâng cao kết quả học tập của bản thân, nâng cao chất lượng môn Công nghệ 8.
- * Kết quả thể hiện bằng số liệu Bảng điều tra về sự tiến bộ của học sinh Khi chưa vận dụng giải pháp: Thông quan việc khảo sát bài kiểm tra Tổng số HS Từ 8 điểm trở lên Từ 5 điểm Dưới điểm 5 Đến 7 điểm SL % SL % SL % 107 40 37.3 57 53.2 10 9.3 Khi vận dụng giải pháp: Thông qua việc khảo sát bài kiểm tra Tổng số HS Từ 8 điểm trở lên Từ 5 điểm Dưới điểm 5 Đến 7 điểm SL % SL % SL % 107 66 61.6 41 38.3 0 0 Bản tổng hợp kết quả bộ môn công nghệ
- Khi tổ chức đánh giá kết quả của học sinh thông qua bài kiểm tra giữa học kì II năm học 2021-2022. Tôi có xây dựng một câu trong đề kiểm tra như sau: Câu 8. (3 điểm) Mỗi quạt điện của lớp học có công suất 80W, bóng đèn có công suất: 30W. Mỗi ngày học sử dụng quạt trung bình 2 giờ, bóng đèn 3 giờ. Hãy tính số tiền điện phải trả trong tháng 1 tháng (26 ngày vì trừ ngày chủ nhật) cho một phòng học dùng 4 quạt điện và 4 bóng đèn như trên với giá điện 1400 đồng/KWh. Tôi đã thu được kết quả như sau: Điểm câu 8 bài kiểm tra như sau Điểm của câu 2 3 điểm 2 điểm 1 điểm 0 điểm SL 60 37 10 0 % 56.07 34.57 9.34 0 Bảng đo lường phẩm chất và năng lực của học sinh: Trước khi áp dụng biện pháp tôi phát phiếu điều tra về tiêu chí hợp tác và trách nhiệm và tiêu chí hoàn thành nhiệm vụ khi HS tham gia các hoạt động học tập trên lớp, tôi thu được kết quả như sau:
- *Tiêu chí hợp tác và trách nhiệm: Tổng số Mức độ Chưa tốt Tốt Rất tốt 107 50 50 7 *Tiêu chí hoàn thành nhiệm vụ: Mức độ Không thực Hoàn thành Hoàn thành Hoàn Tổng số hiện nhiệm vụ một phần tốt thành rất được giao tốt 107 12 30 50 15 Sau bài 49. Thực hành. Tính toán tiêu thụ điện năng trong gia đình. Tôi phát phiếu đánh giá ý thức cá nhân qua tiêu chí hợp tác và trách nhiệm và tiêu chí hoàn thành nhiệm vụ (Nhóm trưởng và HS trong nhóm đánh giá). Kết quả của HS được thể hiện qua số liệu sau: *Tiêu chí hợp tác và trách nhiệm: Tổng số Mức độ Chưa tốt Tốt Rất tốt 107 10 70 27 *Tiêu chí hoàn thành nhiệm vụ Mức độ Không thực Hoàn thành Hoàn thành Hoàn Tổng số hiện nhiệm vụ một phần tốt thành rất được giao tốt 107 0 15 65 27
- Hình ảnh giờ học công nghệ lớp 8 trường THCS Lê Lợi, tiết thực hành tính toán tiêu thụ điện năng trong gia đình sử dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề để phát triển năng lực phẩm chất cho học sinh trong dạy học



